CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm biến đổi chính trị và kinh tế trong thể chế Bakuhan 1. Chính trị và sự biến đổi chính trị Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính trị là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước; sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước”. Về nội dung biểu hiện, chính trị được cấu thành từ nhiều yếu tố: con người chính trị, giai cấp chính trị, tư tưởng chính trị, bộ máy quyền lực, các đảng phái chính trị, quan hệ quyền lực, các chính sách chính trị.Các biểu hiện của chính trị không tồn tại biệt lập mà có quan hệ cấu trúc với nhau.
Do đó, dù nghiên cứu chính trị gắn với con người chính trị, giai cấp chính trị, tư tưởng chính trị, đảng phái chính trị hay nghiên cứu chính trị dưới góc độ bộ máy quyền lực; quan hệ quyền lực, quyết sách chính trị thì cũng liên quan đến các phương diện còn lại. Tiếp cận từ phương diện yếu tố cấu thành của chính trị, có thể hiểu biến đổi chính trị là sự biến đổi trong các yếu tố cấu thành chính trị. Theo nghĩa này, biến đổi chính trị gồm: biến đổi tư tưởng chính trị, biến đổi chế độ chính trị, biến đổi quan hệ giữa các đảng phái, biến đổi của các giai cấp, biến đổi quan hệ chính trị. Sự biến đổi của từng yếu tố cấu thành chính trị trên không tách rời nhau mà có quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau theo nghĩa sự thay đổi của yếu tố này sẽ dẫn tới những thay đổi trong các yếu tố chính trị khác.
Và đến lượt nó, sự thay đổi đó lại là nguyên nhân cho những thay đổi khác của chính trị. Trong luận văn này, biến đổi chính trị được triển khai theo hướng tập trung khảo sát sự biến đổi của ba yếu tố: (1) sự biến đổi trong cấu trúc quyền lực; (2) sự biến đổi trong mối quan hệ giữa các thế lực chính trị, và (3) sự biến đổi vị thế của các giai cấp. 16 Sự biến đổi của các yếu tố chính trị không tự nhiên diễn ra mà chịu ảnh hưởng, hay đúng hơn là chịu sự chi phối, từ các tác nhân nội tại và ngoại tại. Vì vậy, luận văn cũng sẽ khảo sát các nhân tố tác động đến sự biến đổi chính trị, từ đó đúc kết lại các đặc điể m quan trọng của quá trình biến đổi chính trị, và ý nghĩa của sự biến đổi về chính trị đối với tiến trình lịch sử về sau.
Kinh tế và sự biến đổi kinh tế Theo Từ điển Merriam - Webster: “Kinh tế, theo nghĩa rộng nhất của nó, là hệ thống tổ chức các hoạt động của con người liên quan đến sản xuất, tiêu thụ, trao đổi và phân phối hàng hóa và dịch vụ”. Khái niệm này định nghĩa kinh tế dựa trên các hoạt động kinh tế, từ sản xuất, phân phối đến tiêu thụ, diễn ra trong một cộng đồng hay trong một quốc gia, mà không xét đến các yếu tố cấu thành của nền kinh tế. Theo Ha Joon Chang, kinh tế bao gồm: “tiền tệ, việc làm, công nghệ, thương mại quốc tế, thuế.sản xuất hàng hóa và dịch vụ, phân phối thu nhập được tạo ra trong quá trình này và tiêu thụ những thứ được sản xuất ra” [6, tr. Khái niệm này định nghĩa kinh tế là một lĩnh vực gần như bao trùm toàn bộ mọi hoạt động và mọi lĩnh vực trong đời sống của con người.
Như vậy, sẽ không thể khu biệt được kinh tế với các lĩnh vực khác, chẳng hạn như chính trị hoặc xã hội. Theo cách hiểu truyền thống, trong luận văn này, kinh tế sẽ được trình bày như “một tổng thể bao gồm các hoạt động sản xuất, trao đổi và tiêu thụ diễn ra trên các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp”. Theo Ngô Doãn Vịnh, “biến đổi kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ thành phần, cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triể n tốt hơn, hiệu quả hơn” [60, tr. Như vậy, chuyể n biế n kinh tế không đơn thuần là sự tăng trưởng kinh tế , mà là quá trình tích luỹ về lượng, dẫn đế n sự biế n đổi về chất của nền kinh tế.
Theo đó, kinh tế sẽ chuyể n dịch từ đơn giản đế n phức tạp, từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người và xã hội qua các thời kỳ phát triể n. 17 Tiếp cận từ phương diện phân loại theo ngành của nền kinh tế, trong luận văn này, biến đổi kinh tế được triển khai theo hướng tập trung khảo sát trên ba lĩnh vực: (1) sự biến đổi trong ngành nông nghiệp; (2) sự biến đổi trong ngành thủ công nghiệp; và (3) sự biến đổi trong ngành thương nghiệp. Sự biến đổi trên các lĩnh vực kinh tế không tự nhiên diễn ra mà chịu sự chi phối từ các tác nhân nội tại và ngoại tại. Vì vậy, luận văn cũng sẽ khảo sát các nhân tố tác động đến sự biến đổi kinh tế, từ đó đúc kết lại các đặc điể m quan trọng của quá trình biến đổi kinh tế, và ý nghĩa của sự biến đổi về kinh tế đối với tiến trình lịch sử về sau.
Thể chế Bakuhan Thể chế Bakuhan, trong tiếng Nhật đọc là Bakuhan taisei (Mạc-Phiên thể chế), là một thuật ngữ do các nhà nghiên cứu sử học đặt ra để chỉ cho “một cơ chế chính trị phong kiến có tính chất quân phiệt”, và “dựa trên sự hiện diện song song của hai guồng máy: Bakufu, đứng đầu là shogun Tokugawa ở trung ương (Edo) và các daimyo cai trị khoảng 265 han (phiên: lãnh địa) ở địa phương” [30, tr. Cơ sở tồn tại của chế độ này dựa trên lòng trung thành tuyệt đối của giai cấp samurai, các lãnh chúa - daimyo (đại danh), và sự cân bằng quyền lực giữa trung ương - Bakufu1 (Mạc phủ) với các lãnh địa - han (phiên) ở cả hai phương diện kinh tế và chính trị. Trong luận văn này, thể chế bakuhan được hiểu theo hai nghĩa: (1) là một thành tố trong cấu trúc quyền lực chính trị; (2) là khuôn khổ thể chế, nơi các biến đổi về chính trị và kinh tế diễn ra. Lý thuyết về sự biến đổi chính trị và kinh tế trong thể chế Bakuhan Vì tất cả các lý thuyết đều không hoàn hảo, và không thể giải thích toàn bộ các vấn đề, nên trong luận văn này sẽ vận dụng ba lý thuyết căn bản để tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ các góc độ khác nhau: lý thuyết thể chế, lý thuyết sinh thái học về lịch sử, và lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
Lý thuyết thể chế Trong tác phẩm Vì sao các quốc gia thất bại (2010), hai nhà kinh tế Daron Acemoglu và James Robinson chia thể chế kinh tế và chính trị thành 2 loại: “tước đoạt” và “dung hợp”, để lý giải tiến trình đi đến thịnh vượng hay nghèo đói của các quốc gia. 1 Bakufu (Mạc phủ): là tổng hành dinh và chính quyền trung ương của giai cấp võ sĩ Nhật Bản. Bakufu đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản là Bakufu Kamakura do Minamoto no Yoritomo lập ra vào năm 1185. 18 Thể chế chính trị tước đoạt là thể chế mà trong đó quyền lực tập trung trong tay của một thiểu số, không có kiểm soát và đối trọng, không có thượng tôn pháp luật.
Thể chế kinh tế tước đoạt là thể chế không dựa trên pháp luật và trật tự, quyền sở hữu không được bảo đảm, có các quy định ngăn cản hoạt động của thị trường và bất công. Thể chế chính trị dung hợp là thể chế cho phép sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần, hạn chế và kiểm soát các chính trị gia, và thượng tôn pháp luật. Thể chế này có một mức độ tập trung chính trị nhất định để có thể duy trì luật pháp và trật tự. Thể chế kinh tế dung hợp là thể chế mà quyền sở hữu được bảo đảm, tuân theo luật pháp và trật tự, dựa vào thị trường, nhà nước hỗ trợ thị trường, gia nhập thị trường tương đối tự do, cơ hội được tiếp cận với giáo dục dành cho đại đa số công dân.
Một khi đã được xác lập, các thể chế chính trị dung hợp sẽ tạo ra thể chế kinh tế dung hợp, và từ đó tạo ra một vòng xoáy đi lên, làm cho quốc gia ngày càng thịnh vượng. Ngược lại, sự liên kết giữa thể chế chính trị chiếm đoạt và thể chế kinh tế chiếm đoạt sẽ tạo ra một vòng xoáy đi xuống, đẩy quốc gia vào tình trạng đói nghèo. Một khi các thể chế chiếm đoạt đã được thiết lập thì có xu hướng tồn tại và duy trì. Những vòng xoáy đi lên và đi xuống không phải hoàn toàn không thể bị đảo ngược.
Sự chuyển hóa thể chế sẽ xảy ra khi có sự tương tác giữa thể chế hiện hữu với “thời điểm lịch sử mang tính quyết định”. Thời điểm quyết định này là những sự kiện lớn làm phá vỡ tính cân bằng trong hệ thống kinh tế hay chính trị hiện thời. Vì vậy, thể chế mang tính lịch sử. Tuy nhiên, Acemoglu và Robinson không hoàn toàn giải thích thỏa đáng điều gì dẫn đến sự thay đổi thể chế, và quỹ đạo thay đổi này là gì, vì “tính ngẫu nhiên hay sự tình cờ của lịch sử” không thể dự liệu và xác định được sự tương tác nào giữa thể chế hiện tại với những thời điểm quyết định sẽ dẫn đến thể chế chiếm đoạt hay dung hợp hơn.
Lý thuyết này đã xác định được mối quan hệ giữa thể chế và thịnh vượng, nhưng lại đảo ngược hướng nhân quả. Nghĩa là, thể chế chính trị dung hợp dẫn đến sự giàu có, nhưng dựa trên tiến trình lịch sử ở nhiều quốc gia, chính sự giàu có mới tạo ra các thể chế chính trị dung hợp, chứ không phải ngược lại. Các thể chế chính trị dung hợp chỉ thật sự xuất hiện khi tầng lớp trung lưu phát triển đủ nhiều và đủ mạnh để tạo ra nó. 19 Chẳng hạn, những lợi thế của châu Âu so với phần còn lại của thế giới từ thế kỉ XVI không chỉ đơn thuần là sự tích lũy những thay đổi nhỏ bé trong quá trình phân hóa thể chế, mà nó còn được thừa hưởng di sản tiến bộ trải qua hàng ngàn năm nhờ vào những cơ hội sinh thái nông nghiệp vốn không tồn tại ở nơi khác.