mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ trên đất Nhật kéo dài gần 7 năm. Tuy đất nước bị quân Đổng minh chiếm đóng song chính phủ Nhật Bản vẫn được công nhân và tiếp tục cai trị, do đó đặc điểm chính trị quan họng của Nhật Bản lúc này là sự tổn tại và vận hành của chính quyển "kép". Các bàn công hàm, ghi nhớ, chỉ thị, khuyến cáo v. đều do người Mỹ ban hành và chuyển cho Chính phủ Nhật.
Vê phía Nhật, lúc đầu Thiên Hoàng tiếp nhân các yêu cầu đó rổi ban Chỉ dụ, sau này khi Hiến pháp 1946 có hiệu lực thì Chính phủ ban hành sắc lệnh. Như vây, quân đội chiếm đóng tuy chỉ điều khiển bộ máy hoạt động một cách gián tiếp, song lại thảo ra các chính sách cải cách rất cơ bản, ảnh hưởng lớn đến chiểu hướng phát triển của Nhật Bản. Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế, cuộc chiếm đóng trong 7 năm của SCAP (theo cách gọi của Mỹ) hay *. SCAP: Supreme Commander Of Allied Powers (chỉ Bộ tổng tư lệnh quân dồng minh).
10 GHQ (theo cách gọi cùa Nhật) thường được đánh giá la hoà hiếu và tích cực. Những chính sách và cách xử lý cùa GHQ đối với Nhật càng về sau càng tỏ ra khoan hổng vã xây dựng. Hoạt động cùa các đàng phái chính trị bị Hiến pháp Minh Trị hạn chê' nghiêm ngặt thì Hiến pháp 1946 lại tạo cho các đảng đó có một vai trò trung tâm ưong hê thống chính trị. "Giai đoạn 1945- 1955 là giai đoạn hình thành trong đó nhiều sự thay đổi được tiếp nhận và các đảng thuộc mọi màu sắc xuất hiên và hợp nhất" [78, 352], Nhung như nhận xét của Edwin o.
Reischauer thì "tất cả những điểu ấy đã không đưa đến sự hỗn loạn vé chính trị. Xét cho cùng, quyển uy chính trị tối cao không phải là Chính phủ Nhật Bàn mà là chính quyến chiếm đóng của Mỹ và nó có sức mạnh quân sự trong tay" [18, 313]. Như vậy, xã hội Nhật Bản sau chiến tranh có đầy những biến động với những hoạt động chính trị rất sôi nổi song khồng vượt qua được biên giới của một vòng đai vô hình thiết chặt ở trên đầu, đó là trật tự mà chính quyền chiếm đóng đã đặt ra. Trong thời gian bị chiếm đóng đã có rất nhiếu cuộc cải cách nhằm phá bỏ hộ thống chính trị Nhật Bản thời kỳ trước *.
GHQ: General Head Quarters (Bộ tổng tư lệnh quân dồng minh). Mục đích của cài cách là phi quân sự hoá đất nước Nhật Bản, xây dựng một hê thống chính trị hợp lòng dân. Hơn nữa, nó nhằm loại bỏ tận gốc tư tường quân phiệt của Nhà nước Minh Trị, đổng thời nhằm đẩy mạnh quá trình thực hiên dân chủ hoá ờ Nhật Bản. Những cải cách chính trị: Để phù hợp với tinh thần của Tuyên bố Postdam, GHQ đã thực hiên một loạt biên pháp chính trị nhằm ngăn chặn mưu đổ phục hổi chủ nghĩa quân phiêt và phát triển xu hướng dân chủ, tự do ở Nhật Bản.
Nhằm bài trừ chù nghĩa quân phiêt, GHQ áp dụng những biên pháp triêt để giải trừ guổng máy chiến banh của Nhật Bản bong một thời gian ngắn. Bước đầu tiên là thủ tiêu quân đôi và hải quân. Toà án quân sự quốc tế Viễn Đông được thiết lập để xét xử những người bị tình nghi là tội nhân chiến banh cấp A. Còn đối với Thiên Hoàng, Mỹ không coi là tội nhân chiến banh, và do đó không đưa ra xét xử.
Vì Mỹ nhân thức được "nếu phế truất hay xừ tôi Thiên Hoàng thì chiến banh du kích sẽ bùng nổ và do đó *. Tội nhân chiến tranh được phân ra thành các cấp loại, trong đó cấp A bao gồm những tội phạm nặng nhất như cựu sỹ quan quân đội cảnh aát, những người từng giữ trọng trách cao ờ các thuộc địa hay từng đảm nhiệm các chức vụ cao nhất trong chính quyền Nhật Đản, một Bố chính trị gia, một Bố nhà kinh doanh hàng đầu và một Bố giáo viên. 12 chính quyển quân sự sẽ phải thiết lập trên khắp nước Nhật’ [87, 253]. GHQ đã quyết định viêc phế bò Bộ Nội vụ là cơ quan trước đây có quyển lực rất lớn, có thể gây mầm mống chiến tranh.
Cuộc thanh trừng tôi phạm chiến tranh đã loại bỏ một bô phân đáng kể những người theo chủ nghĩa quân phiệt là các quan chức cao cấp ra khỏi bô máy lãnh đạo Nhà nước. Trong số các chính trị gia bị thanh trừng, phần đông là những người có quan hê với Hoàng gia, số còn lại thuộc các đàng chính trị, trong đó có Đảng Cộng sàn. Tuy cuộc thanh trừng chỉ tiến hành giữa chừng do có "đường lối đảo ngược" (tức sự thay đổi ngược lại trong chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản) và còn hạn chế (phân định tôi trạng chưa phù hợp, lợi dụng thanh trừng để gạt bò những người cộng sản, nhiều người trong danh sách thanh trừng đã được phục hổi chức vụ cũ) song cũng thu được kết quả đáng kể. Với những biên pháp mạnh mẽ, cương quyết trong giai đoạn đầu, GHQ đã loại bỏ khỏi các cơ quan đầu não của Chính phủ và các chính đảng những phần tử phát xít, xoá bỏ mầm mống phục hổi chủ nghĩa quân phiêt Nhật Bản, tạo điều kiên thuận lợi cho xu hướng dân chủ, tự do phát triển ở Nhật Bản.
Thành công lớn nhất của cuộc cải cách chính trị là viêc ban hành một bản hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1946. Để 13 kiến tạo một nước Nhật Bàn dân chù, bản hiến pháp mới đã được công bố để thay thế cho Hiến pháp Minh Trị năm 1889. Bản hiến pháp mới do GHQ soạn thảo và sau đó được Quốc hôi Nhật Bản thông qua. Hiểu được tâm lý người Nhật vốn sùng bái và tôn kính Thiên Hoàng nên MacArthur đã quyết định duy trì vị trí tượng trưng của Thiên Hoàng.
Ngày 3/11/1946, nhân kỳ’ niêm ngày sinh của Hoàng đế Minh Trị, bàn hiến pháp mới được công bố và từ ngày 3/5/1947 nó bắt đầu có hiêu lực. Có thể nói viêc ban hành Hiến pháp mới và hê thống lập ■ pháp phụ ượ cho Hiến pháp đã xoá bỏ những chỗ không rõ ràng vé chế đô chuyên quyến của Hiến pháp Minh Trị và tạo nên nến tảng vững chắc cho chế độ dần chù ờ Nhật Bản. Hiến pháp 1946 có nhiều điểm tiến bộ so với Hiến pháp Minh Trị, tạo ra một thay đổi quan trọng trong tiến trình chính trị tại Nhật Bản. Sự thay đổi đầu tiên liên quan đến vị trí của Thiên Hoàng.Reischauer viết như sau: "Cái nguy hiểm của chế đồ không phải trong bản thân Thiên Hoàng, mà ở ưong thái độ của nhân dân đối với Người, và cái thái độ này thì khó lòng có thể thay đổi bằng cách trừng phạt Thiên Hoàng hay bãi bỏ thiết chế quân chủ bất chấp nguyên vọng của họ.
Điếu cần thiết là phải phát triển dần dần một thái đô khác với Thiên Hoàng và vai trò của Người" [18, 250], Chính vì vậy, chương đầu tiên trong Hiến pháp dành cho 14 Thiên Hoàng đã bắt đầu với câu "Thiên Hoàng là biểu tượng của Nhà nước và sự thống nhất của nhân dân. Mọi hoạt động của Thiên Hoàng đều phải diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp" [28, điểu 1 và 4], Sự thay đổi quan trọng thứ hai liên quan đến mối quan hê giữa ngành hành pháp và ngành lập pháp trong cơ cấu chính quyển. Theo Hiến pháp mới, Quốc hội là cơ quan quyển lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất cùa Nhà nước. Thủ tướng phải do Quốc hội lựa chọn trong số các đại biểu Quốc hội và đa số thành viên trong Nội các cùa Thủ tướng cũng phải được chọn trong số các đại biểu Quốc hội.
Nội các trong việc thực hiên quyển lực của mình sẽ chịu trách nhiêm tập thể trước Quốc hôi. "Nếu Hạ nghị viên biểu quyết kiến nghị phê bình hay bác bỏ kiến nghị tín nhiêm, toàn thể Nội các phải từ chức, trừ phi Hạ nghị viện bị giải tán, trong vòng 10 ngày" [28, điêu 69]. Sự tiến bộ thứ ba liên quan đến sự thay đổi cơ cấu của Quốc hội nghĩa là các nghị sỹ cùa Hai viên đều do dân bầu và quyến bầu cử được mở rộng cho mọi công dân, không giới hạn ở nam giới như trước đây. Sự tiến bộ thứ tư thể hiên ở chỗ Hiếh pháp mới tôn trọng những quyến căn bản của dân chúng, quyến nam nữ bình đẳng, quyển đoàn kết của người lao động, quyền đình công và cả "quyền được hưởng những tiêu chuẩn tối thiểu của một cuộc sống lành mạnh có văn hoá" [28, điều 25].
15 Sự thay đổi thứ năm liên quan đêh ngành Tư pháp. Trước kia Tư pháp chỉ là một chi nhánh phụ thuộc vào ngành Hành pháp và do Bộ tư pháp kiểm soát. Theo quy định của Hiến pháp mới, ngành Tư pháp độc lập với Hành pháp, trực thuộc Pháp viện tối cao: viên này là cơ quan có thẩm quyển cao nhất trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến Hiến pháp. Về quyến tự trị địa phương cũng có thay đổi lớn.
Các quan chức chính quyền địa phương đểu phải do cử tri của đơn vị tương ứng bầu ra. Chính quyền địa phương được giao nhận quyền hạn hơn hẳn trước kia trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương họ. Tuy còn có những điểm hạn chế (Hiến pháp do Mỹ áp đặt, bảo vê lợi ích của giai cấp tư sản v,v.„), song trên thực tế, bản Hiến pháp 1946 được đông đảo quần chúng nhân dân tiếp nhận, trờ thành bộ luật tối cao của Nhật Bản và tồn tại cho đến tân ngày nay. Sự ra đời của bản Hiến pháp 1946 có ý nghĩa vô cùng trọng đại.
Nó khẳng định hoà bình là nguyên tắc của đất nước Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh, quy định Chính phủ Nhật Bản là chính phủ phục vụ nhân dân, vì dân chứ không phục vụ Hoàng đế, Nhà nước Nhật Bản là nhà nước được xây dựng trên một nến dân chủ tư sản dựa vào thuyết tam quyển phân lập. Các đảng phái chính trị được tự do hoạt đông. Có thể nói việc thực hiên nghiêm túc Hiến pháp 1946 đã tạo ra ở 16 Nhật Bản một môi trường hoà bình, dân chủ, là cơ sờ quan trọng để Nhật Bản làm nên sự thần kỳ kinh tế vào những thập kỷ sau này. Sự hình thành hệ thống chính trị 1955 ỏ Nhật Bản: Ngay sau khi Nhật Bàn tuyên bố đầu hàng chính thức quân Đổng minh, ngày 9/ 10/ 1945 Shidehara Kijuro, cựu Bộ trưởng ngoại giao của Nhật Bàn được cử làm Thủ tướng với tư cách là Chủ tịch của Đảng Tiến bô.