Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề bất bình đẳng trong phân phối lợi ích từ hoạt động kinh tế du lịch đang là thách thức lớn tại nhiều khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước. Theo các báo cáo thống kê, vào năm 2004 có khoảng 74,1% dân số Việt Nam sinh sống tại khu vực nông thôn và tỷ lệ nghèo đói toàn quốc năm 2005 vẫn ở mức xấp xỉ 26%, tương đương khoảng 4,6 triệu hộ gia đình. Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập từ năm 1962, nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 120 km về phía Nam, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu với hệ sinh thái động thực vật phong phú và là không gian cư trú lâu đời của cộng đồng người Mường. Mặc dù lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến Cúc Phương không ngừng tăng trưởng qua từng năm, đại bộ phận người dân tại các xã vùng đệm vẫn phải đối mặt với điều kiện kinh tế khó khăn, diện tích đất canh tác hạn hẹp và sinh kế phụ thuộc nặng nề vào việc khai thác lâm sản trái phép.
Mục tiêu cốt lõi của đề tài là nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch gắn với đời sống cộng đồng cư dân vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương, từ đó xây dựng mô hình du lịch vì người nghèo (Pro-Poor Tourism) mang tính khả thi cao nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm áp lực tàn phá tài nguyên thiên nhiên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các xã vùng đệm trọng điểm như xã Cúc Phương, xã Kỳ Phú, xã Yên Quang và khu vực bản Khanh, với chuỗi dữ liệu khảo sát từ năm 2006 và định hướng phát triển cho những giai đoạn tiếp theo. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao thu nhập cho hơn 30% số hộ nghèo địa phương, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận đa chiều về chuẩn nghèo và phát triển du lịch bền vững. Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), nghèo đói không chỉ giới hạn ở mức thu nhập tuyệt đối dưới 1 USD/ngày theo sức mua tương đương, mà còn thể hiện qua sự thiếu hụt các cơ hội giáo dục, chăm sóc y tế và quyền tự quyết sinh kế, được phản ánh qua chỉ số phát triển con người (HDI). Tại Việt Nam, chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg quy định mức thu nhập dưới 80.000 đồng/người/tháng đối với vùng miền núi và Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 đã nâng mức chuẩn nghèo nông thôn lên 200.000 đồng/người/tháng. Trong bối cảnh hệ số bất bình đẳng thu nhập Gini của nước ta ở mức 0,42 và mức độ chênh lệch giàu nghèo lên tới 8,1 lần, việc tìm kiếm công cụ kinh tế hỗ trợ phân phối lại của cải là yêu cầu cấp thiết.
Khung lý thuyết then chốt của luận văn là mô hình Du lịch vì người nghèo (Pro-Poor Tourism - PPT) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) khởi xướng năm 1999 và được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) phát triển tại Hội nghị Johannesburg năm 2002 với sáng kiến ST-EP. Luận văn tiếp cận theo 4 phương thức tương tác cốt lõi: tạo việc làm trực tiếp tại các cơ sở lưu trú; thiết lập chuỗi cung ứng hàng hóa nông sản - thủ công mỹ nghệ; trợ lực khu vực kinh tế phi chính thức như hướng dẫn viên bản địa, xe vận chuyển; và thành lập doanh nghiệp cộng đồng tự quản. Bên cạnh đó, tác giả đúc kết bài học từ dự án phát triển du lịch cộng đồng người Karen tại Baan Huay Hee (Thái Lan) với hơn 60 bản làng áp dụng thành công và mô hình du lịch nông trại gia đình tại Paraguay, Uruguay để hoàn thiện khung phân tích.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp từ Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương, Tổng cục Thống kê với dữ liệu sơ cấp thu thập tại thực địa. Cỡ mẫu khảo sát định lượng gồm 180 hộ gia đình sinh sống tại các xã vùng đệm Cúc Phương, Kỳ Phú, Yên Quang, kết hợp 25 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan gồm cán bộ quản lý vườn quốc gia, chính quyền địa phương và đại diện các công ty lữ hành. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm thu nhập, nghề nghiệp và khoảng cách địa lý từ khu dân cư đến ranh giới rừng đặc dụng.
Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích định tính và quan sát tham dự thực địa được áp dụng nhằm bóc tách cấu trúc thu nhập, đánh giá mức độ phụ thuộc vào rừng và đo lường rào cản tham gia dịch vụ du lịch của người dân tộc Mường. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chân thực nhận thức, nguyện vọng và năng lực thực tế của cộng đồng bản địa, tránh những đánh giá chủ quan thuần túy định lượng. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành tập trung trong giai đoạn 2006 đến đầu năm 2007, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để thiết kế mô hình tổ hợp dịch vụ du lịch vì người nghèo.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tế tại vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng và hoạt động du lịch:
Thứ nhất, sự phân bổ lợi ích kinh tế từ du lịch đang tồn tại khoảng cách rất lớn. Khoảng 82% tổng doanh thu từ du lịch tại Cúc Phương thuộc về các đơn vị kinh doanh lữ hành từ bên ngoài và các dịch vụ quy mô lớn, trong khi người dân bản địa chỉ thu được một phần rất nhỏ thông qua các công việc thời vụ bấp bênh với thu nhập bình quân dưới 150.000 đồng/người/tháng.
Thứ hai, mức độ phụ thuộc sinh kế vào rừng tự nhiên của các hộ nghèo vẫn ở mức báo động. Tại các thôn bản giáp ranh như bản Khanh, tỷ lệ hộ nghèo chiếm từ 35% đến 45% tổng số hộ, trong đó có hơn 65% số hộ thừa nhận vẫn duy trì thói quen khai thác gỗ, bẫy bắt động vật hoang dã, lấy măng và mật ong trong lâm phận vườn quốc gia để duy trì nguồn sống hàng ngày.
Thứ ba, tiềm năng và mức độ sẵn sàng tham gia hoạt động du lịch của người Mường bản địa là rất cao. Khoảng 78% số người được hỏi bày tỏ nguyện vọng tha thiết muốn chuyển đổi sinh kế sang các dịch vụ du lịch như biểu diễn văn nghệ dân tộc, làm nhà nghỉ tại gia (homestay), dẫn đường trekking và cung cấp ẩm thực truyền thống nếu được chính quyền hỗ trợ.
Thứ tư, rào cản lớn nhất của cộng đồng là sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn vốn và kỹ năng nghiệp vụ. Hơn 85% hộ dân không có tài sản thế chấp để tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng trên 5.000.000 đồng và 92% lao động chưa từng trải qua bất kỳ khóa đào tạo nào về an toàn vệ sinh thực phẩm, giao tiếp phục vụ khách du lịch hay quản lý tài chính hộ gia đình.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế nêu trên xuất phát từ sự vắng bóng một cơ chế điều phối liên kết công - tư - cộng đồng hiệu quả. Vườn quốc gia Cúc Phương và các cấp chính quyền địa phương trong thời gian dài chỉ chú trọng công tác tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt bằng chế tài hành chính mà chưa thiết lập được chuỗi giá trị du lịch có sự tham gia của người dân vùng đệm. Điều này dẫn đến mâu thuẫn dai dẳng giữa mục tiêu bảo tồn và áp lực sinh kế của người nghèo.
Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu về cơ cấu nguồn thu nhập của người dân có thể được trình bày qua biểu đồ tròn, thể hiện rõ tỷ trọng đóng góp từ nông nghiệp chiếm 70%, khai thác lâm sản chiếm 22% và du lịch chỉ chiếm 8%. Đồng thời, bảng tổng hợp so sánh tỷ lệ tham gia dịch vụ du lịch giữa các xã sẽ minh chứng rõ nét mức độ chênh lệch khi xã Cúc Phương chiếm 60% tổng số lao động du lịch địa phương, trong khi các xã xa hơn như Yên Quang chỉ chiếm dưới 10%.
Kết quả khảo sát tại Cúc Phương hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của DFID tại Đông Nam Á, khẳng định rằng du lịch sinh thái tự phát sẽ không thể giúp xóa đói giảm nghèo nếu không có các can thiệp có chủ đích nhằm trao quyền làm chủ, nâng cấp kỹ năng và chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân nghèo tại chỗ.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực địa và khung lý thuyết du lịch vì người nghèo, tác giả đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cụ thể:
Thứ nhất, thành lập Tổ hợp Hợp tác xã Du lịch Cộng đồng do người dân bản địa tự quản tại xã Cúc Phương và xã Kỳ Phú. Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã triển khai trong giai đoạn 2007-2009, đặt mục tiêu thu hút tối thiểu 40% hộ nghèo trong bản tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú homestay, biểu diễn cồng chiêng và hướng dẫn viên địa phương.
Thứ hai, xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và hàng thủ công mỹ nghệ Mường kết nối trực tiếp với hệ thống nhà hàng của Vườn quốc gia và các công ty lữ hành. Doanh nghiệp du lịch ký kết hợp đồng thu mua nông sản, mật ong nuôi và thổ cẩm của người dân với giá ổn định, phấn đấu tăng 30% thu nhập bình quân cho các hộ sản xuất phụ trợ trong vòng 24 tháng.
Thứ ba, triển khai chương trình đào tạo nghề du lịch và tập huấn kỹ năng đón tiếp khách du lịch cho cộng đồng. Vườn quốc gia Cúc Phương phối hợp cùng các tổ chức phi chính phủ quốc tế như SNV Hà Lan tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn, hướng tới mục tiêu đào tạo chuyên môn cho 150 lao động nghèo địa phương, ưu tiên đối tượng phụ nữ và thanh niên nông thôn.
Thứ tư, thành lập Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng và Bảo tồn Vườn quốc gia Cúc Phương. Nguồn quỹ được trích lập từ 5% đến 10% doanh thu bán vé tham quan vườn và đóng góp tự nguyện của du khách, giao cho ban đại diện cộng đồng quản lý dưới sự giám sát của chính quyền xã từ năm 2008 nhằm tái đầu tư vào hạ tầng vệ sinh, đường giao thông nông thôn và hỗ trợ vốn xoay vòng cho các hộ nghèo khởi nghiệp du lịch.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước. Luận văn cung cấp case study thực chứng về phương thức tích hợp giảm nghèo vào công tác quản lý rừng đặc dụng, giúp giải quyết triệt để xung đột sinh kế vùng đệm.
Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, du lịch sinh thái và du lịch có trách nhiệm. Doanh nghiệp có thể ứng dụng các hướng dẫn chi tiết trong đề tài để xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa Mường, thiết lập chuỗi cung ứng có đạo đức và nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR).
Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế (như SNV, WWF, UNDP, DFID) đang triển khai các dự án can thiệp cộng đồng. Đề tài cung cấp hệ thống chỉ số đánh giá nhu cầu và mô hình can thiệp khả thi đã được kiểm chứng tại địa bàn miền núi phía Bắc.
Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Du lịch học, Việt Nam học, Lâm nghiệp và Phát triển nông thôn. Đây là nguồn tư liệu phong phú phục vụ giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về mô hình PPT và phát triển bền vững tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình Du lịch vì người nghèo (PPT) khác biệt như thế nào so với du lịch sinh thái thông thường?
Du lịch sinh thái thông thường tập trung chủ yếu vào mục tiêu bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và giảm thiểu tác động môi trường. Ngược lại, Du lịch vì người nghèo (PPT) đặt đối tượng người nghèo làm trung tâm của mọi chiến lược phát triển, chủ động tạo ra các cơ hội kinh tế, việc làm và nâng cao quyền năng cho người dân bản địa để giúp họ thoát nghèo bền vững.
Vì sao người dân vùng đệm Cúc Phương chưa thể tự phát triển du lịch để thoát nghèo?
Nguyên nhân chủ yếu do hơn 85% hộ dân thiếu hụt nguồn vốn đầu tư ban đầu, không có tài sản thế chấp và chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng du lịch. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các doanh nghiệp lữ hành với cộng đồng người Mường còn rất lỏng lẻo, khiến người dân không thể tiếp cận trực tiếp với thị trường khách du lịch.
Mô hình du lịch cộng đồng tại Thái Lan mang lại bài học kinh nghiệm gì cho Cúc Phương?
Dự án tại bản Baan Huay Hee (Thái Lan) đã chứng minh rằng khi người dân được tổ chức thành các nhóm luân phiên cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực và trích một phần doanh thu vào quỹ bảo vệ rừng chung, cộng đồng sẽ tự giác gìn giữ môi trường và chấm dứt nạn phá rừng. Mô hình này hoàn toàn phù hợp để chuyển giao cho các bản làng người Mường tại Cúc Phương.
Cơ chế tài chính nào đảm bảo tính bền vững cho mô hình du lịch vì người nghèo?
Đó là cơ chế trích lập Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng từ 5% đến 10% doanh thu bán vé của Vườn quốc gia kết hợp phí dịch vụ từ các homestay. Nguồn quỹ này vừa hỗ trợ vốn vay xoay vòng không lãi suất cho các hộ nghèo cải tạo nhà cửa, vừa tài trợ cho các lớp đào tạo nghề và nâng cấp hạ tầng nước sạch, vệ sinh môi trường.
Luận văn đặt mục tiêu giải quyết sinh kế cụ thể như thế nào cho cộng đồng vùng đệm Cúc Phương?
Luận văn đặt mục tiêu trong giai đoạn 2 đến 3 năm sẽ thu hút ít nhất 40% hộ nghèo tham gia vào mạng lưới cung cấp dịch vụ du lịch, đào tạo nghề trực tiếp cho 150 lao động địa phương và giúp tăng thu nhập bình quân của các hộ tham gia thêm 30%, qua đó giảm rõ rệt tỷ lệ hộ nghèo tại các xã trọng điểm.
Kết luận
- Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về Du lịch vì người nghèo (Pro-Poor Tourism) và đánh giá xác đáng thực trạng sinh kế của cộng đồng dân tộc Mường tại vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương.
- Chỉ rõ sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân chia lợi ích du lịch khi hơn 80% doanh thu thuộc về bên ngoài, đồng thời xác định rào cản lớn nhất của người nghèo là thiếu vốn và kỹ năng nghiệp vụ.
- Thiết kế thành công mô hình tổ hợp dịch vụ du lịch vì người nghèo với 4 nhánh can thiệp trọng tâm: việc làm trực tiếp, chuỗi cung ứng nông sản, dịch vụ phi chính thức và doanh nghiệp tự quản.
- Đề xuất lộ trình triển khai chi tiết giai đoạn 2007-2009 với sự tham gia của 4 bên: Vườn quốc gia, chính quyền địa phương, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng cư dân.
- Thiết lập cơ chế tài chính bền vững thông qua Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng trích từ 5-10% nguồn thu vé tham quan để tái đầu tư xã hội và bảo vệ rừng.
Trong giai đoạn tiếp theo, các địa phương và Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương cần khẩn trương thể chế hóa mô hình tổ hợp du lịch cộng đồng, mở rộng các lớp tập huấn kỹ năng và triển khai thí điểm tại các bản giáp ranh như bản Khanh. Hãy chủ động nghiên cứu và ứng dụng ngay những giải pháp từ luận văn để biến tiềm năng du lịch thành động lực xóa đói giảm nghèo bền vững và gìn giữ di sản thiên nhiên vô giá cho tương lai.