Tổng quan nghiên cứu

Công cuộc mở cõi phương Nam của dân tộc Việt Nam kéo dài hơn 400 năm là một thiên anh hùng ca khai hoang lập ấp đầy gian nan và kiên cường. Trong tiến trình lịch sử đó, xứ Mô Xoài giữ vị trí địa bàn đầu tiên tiếp nhận những bước chân lưu dân người Việt vào đầu thế kỷ XVII, được chính thức ghi nhận qua sự kiện quân chúa Nguyễn tiến đánh thành Mô Xoài vào năm 1658. Tuy nhiên, sau nhiều biến động lịch sử từ thời nhà Nguyễn đến thời Pháp thuộc, địa danh cổ kính này dần bị phai mờ và thay thế bằng tên gọi Bà Rịa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là phục dựng toàn diện diện mạo không gian địa - văn hóa, cấu trúc kinh tế và đời sống xã hội của một tiền đồn mở cõi từng giữ vai trò bàn đạp chiến lược.

Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm định vị chính xác không gian xứ Mô Xoài xưa, làm rõ tiến trình khai hoang, xác lập chủ quyền lãnh thổ của Đàng Trong, đồng thời phân tích sâu sắc cơ cấu sở hữu ruộng đất, mạng lưới thương mại và đời sống tín ngưỡng truyền thống. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ vùng lãnh thổ tương đương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.989 km², tập trung vào vùng lõi trung tâm gồm bốn thôn cổ Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên và Long Xuyên thuộc thành phố Bà Rịa ngày nay, trong khung thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật to lớn khi đóng góp nguồn tư liệu định lượng thực chứng, làm sáng tỏ các giá trị địa văn hóa của vùng đất có 41,87% diện tích đất đỏ vàng màu mỡ và hệ thống sông Dinh với lưu vực 310 km², khẳng định vị thế cửa ngõ quyết định sự thành bại của toàn bộ công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Công trình vận dụng lý thuyết Khu vực học kết hợp chặt chẽ với lý thuyết Địa - Văn hóa học và Địa chính trị nhằm tiếp cận đối tượng trong tính chỉnh thể không gian và thời gian. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng lý thuyết Cấu trúc Mandala của các học giả nghiên cứu Đông Nam Á cổ truyền để luận giải tính chất vùng đệm tiếp giáp giữa Champa và Chân Lạp trước thế kỷ XVII, nơi xứ Mô Xoài đóng vai trò không gian chuyển tiếp trước khi đón nhận luồng di cư của người Việt.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên mối tương tác hữu cơ giữa ba trụ cột: Địa bàn cư trú tự nhiên, Phương thức tổ chức kinh tế nông nghiệp - thương nghiệp và Đời sống văn hóa xã hội cộng đồng. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm:

  • Không gian văn hóa: Hệ thống lãnh thổ gắn liền với hoạt động sinh tồn, biến đổi cảnh quan tự nhiên thành cảnh quan nhân văn của cộng đồng cư dân.
  • Địa bàn tiền đồn: Vùng đất địa đầu đóng vai trò bàn đạp quân sự và hậu cần cho tiến trình mở rộng lãnh thổ.
  • Chế độ sở hữu ruộng đất: Cấu trúc phân bổ quyền sử dụng và sở hữu giữa ruộng công điền và ruộng tư điền qua ghi chép địa bạ.
  • Diễn trình tụ cư: Quá trình dịch chuyển dân cư, cộng cư hòa huyết và xác lập thiết chế làng xã truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ năm nguồn chính thống: Khảo cứu văn bản Hán Nôm cổ từ các bộ chính sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục; hệ thống tư liệu địa bạ năm 1836 dưới triều vua Minh Mạng; các tài liệu bản đồ địa chính tiếng Pháp cuối thế kỷ XIX; các khảo cứu khảo cổ học tiền sơ sử; và nguồn tư liệu điền dã thực địa trong 60 ngày qua hai đợt vào tháng 12 năm 2009 và tháng 6 năm 2012.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 144 chủ sở hữu ruộng tư tại bốn thôn trung tâm xứ Mô Xoài với tổng diện tích canh tác thực tế trên 350 mẫu ruộng, kết hợp khảo sát 62 làng xã phân bố trên bốn tổng thuộc huyện Phước An thời Nguyễn. Phương pháp chọn mẫu toàn diện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho không gian vùng lõi.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Sử học thực chứng, Dân tộc học và Thống kê định lượng lịch sử là nhằm xử lý hiện tượng ẩn lậu ruộng đất trước đạc điền, so sánh đối chiếu chuẩn xác các lớp địa danh và phục dựng khách quan bức tranh kinh tế - xã hội thời khẩn hoang.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu định vị chính xác không gian vùng lõi xứ Mô Xoài tương đương với địa bàn thành phố Bà Rịa ngày nay, bao gồm bốn thôn cổ Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên và Long Xuyên. Ngọn núi Mô Xoài trong sử liệu chính là núi Dinh có độ cao 504 mét, và sông Mô Xoài chính là sông Dinh dài 310 km² lưu vực, khẳng định địa danh này hoàn toàn có nguồn gốc thực vật bản địa từ cây xoài rừng chứ không phải từ ngữ miệt thị tộc người.

Thứ hai, kết quả xử lý dữ liệu địa bạ năm 1836 cho thấy tổng diện tích ruộng đất sau cuộc đạc điền đã tăng vọt gấp 4,5 lần so với số liệu kê khai trước đó. Thôn Long Hương có mức tăng đột biến gần 7 lần, từ 28,09 mẫu lên tới 195,46 mẫu ruộng tư. Toàn vùng Mô Xoài ghi nhận tỷ lệ ruộng công điền chỉ chiếm 4,3% với hơn 15 mẫu, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 8,1% của toàn tỉnh Biên Hòa và mức 7,57% của toàn thể sáu tỉnh Nam Kỳ.

Thứ ba, cơ cấu sở hữu ruộng tư phản ánh rõ nét đặc trưng của nền nông nghiệp tiểu nông tự canh. Trong tổng số 144 chủ sở hữu, nông dân nghèo sở hữu dưới 1 mẫu chiếm 38,2% với 55 người; nhóm nông dân tự canh và khá giả sở hữu từ 1 đến dưới 10 mẫu chiếm ưu thế tuyệt đối với 59,7% tương đương 86 người; và chỉ có 2,1% tương đương 3 người thuộc diện sở hữu lớn trên 10 mẫu. Diện tích sở hữu bình quân toàn vùng đạt 2,34 mẫu trên mỗi chủ ruộng.

Thứ tư, mạng lưới kinh tế hàng hóa và quân sự đường thủy phát triển mạnh mẽ qua hai tuyến huyết mạch: Tuyến từ cửa sông Mô Xoài ra cửa Lấp dài 10.345 tầm khoảng 20 km và tuyến ngược lên ngã ba Nhà Bè dài 33.300 tầm gần 70 km, kết nối hoạt động sản xuất muối biển, đánh bắt thủy sản và hệ thống chợ làng phong phú.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ ruộng tư chiếm tới 95,7% khẳng định vai trò quyết định của các cá nhân và gia đình di dân tiên phong trong việc khai phá đất hoang. Nhà nước phong kiến Đàng Trong đã công nhận quyền sở hữu tư nhân như một động lực kích thích khẩn hoang nhanh chóng. Khi so sánh với thôn Bình Phú Trung thuộc huyện Bình An vốn có mức chênh lệch giàu nghèo lên tới 400 lần với 55 chủ ruộng lớn, xứ Mô Xoài thể hiện một cấu trúc xã hội thuần nông tương đối bình quân, ít phân hóa giai cấp gay gắt.

Dữ liệu lịch sử này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn so sánh tỷ lệ ruộng công và ruộng tư, cùng bảng phân bổ quy mô ruộng đất theo các nhóm dòng họ lớn như họ Đặng, họ Nguyễn, họ Lê. Điều này giải thích tại sao Mô Xoài duy trì được sự ổn định xã hội vững chắc, đóng vai trò căn cứ hậu cần vững vàng cho quân đội chúa Nguyễn trong các chiến dịch bảo vệ chủ quyền biên viễn phương Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu số và bản đồ GIS định vị di sản không gian xứ Mô Xoài. Đơn vị thực hiện là Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành, đặt mục tiêu số hóa 100% tọa độ di tích khảo cổ, thành lũy cổ và các thôn xóm lịch sử trong giai đoạn 2026-2028.

Thứ hai, biên soạn tài liệu và đưa tri thức lịch sử khẩn hoang Mô Xoài vào chương trình giáo dục địa phương. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh chủ trì, đặt chỉ tiêu 100% các trường phổ thông trên địa bàn triển khai giảng dạy chuyên đề địa danh học và lịch sử mở cõi từ năm học 2026-2027 nhằm nâng cao ý thức cội nguồn cho thế hệ trẻ.

Thứ ba, quy hoạch tuyến du lịch văn hóa - sinh thái kết nối các di sản không gian lịch sử. Ủy ban nhân dân thành phố Bà Rịa phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành triển khai tuyến du lịch dọc sông Dinh, núi Dinh và di chỉ Bưng Bạc, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách tham quan trải nghiệm văn hóa trong giai đoạn 2027-2030.

Thứ tư, lập hồ sơ khoa học đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho các lễ hội truyền thống tiêu biểu. Trung tâm Quản lý Di tích và cộng đồng cư dân địa phương tập trung hoàn thiện hồ sơ cho lễ Kỳ yên đình Long Hương và tri thức dân gian nghề làm muối thủ công, phấn đấu đạt mục tiêu ghi danh từ 1 đến 2 di sản cấp quốc gia trước năm 2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lịch sử, Việt Nam học, Địa phương học: Khai thác phương pháp tiếp cận khu vực học, kỹ năng giải mã văn bản địa bạ Hán Nôm và khung lý thuyết địa - văn hóa ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử Nam Bộ.

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách văn hóa - di sản: Tham khảo cơ sở thực chứng để xây dựng phương án đặt đổi tên đường phố, phục dựng các địa danh lịch sử bị lãng quên và thẩm định hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa tại địa phương.

Nhóm chuyên gia quy hoạch đô thị và kiến trúc cảnh quan: Vận dụng các phát hiện về mạng lưới thủy văn sông Dinh, địa hình đồi núi thấp và hình thái làng cổ để thiết kế không gian đô thị sinh thái Bà Rịa giữ được bản sắc cảnh quan văn hóa truyền thống.

Nhóm nhà phát triển sản phẩm du lịch và truyền thông giáo dục: Sử dụng các câu chuyện lịch sử mở cõi, hệ thống dịch trạm cổ và tri thức ẩm thực - làng nghề để xây dựng các sản phẩm du lịch di sản độc đáo và ấn phẩm truyền thông văn hóa hấp dẫn.

Câu hỏi thường gặp

Địa danh Mô Xoài xuất hiện sớm nhất trong thư tịch nào và mang ý nghĩa gì? Địa danh xuất hiện sớm nhất trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và chính thức gắn với sự kiện quân sự năm 1658 trong Gia Định thành thông chí. Tên gọi này có nguồn gốc thuần Việt chỉ vùng đất có nhiều cây xoài rừng sinh trưởng tự nhiên, hoàn toàn không mang hàm ý chỉ dân tộc thiểu số như một số suy đoán trước đây.

Vì sao Mô Xoài được chọn làm tiền đồn đầu tiên trong công cuộc khai phá Nam Bộ? Xứ Mô Xoài sở hữu vị thế địa chiến lược đặc biệt với dải đồng bằng ven biển phù hợp trồng trọt, nằm ở điểm cuối của dãy Trường Sơn và có cửa sông Dinh sâu trên 10 mét. Địa thế này cho phép lưu dân vượt biển an toàn vào định cư và dễ dàng kết nối đường thủy sâu vào nội địa Nam Bộ.

Tình hình sở hữu ruộng đất tại Mô Xoài vào năm 1836 có điểm gì nổi bật? Số liệu địa bạ năm 1836 chỉ ra rằng ruộng tư điền chiếm tỷ lệ áp đảo tới 95,7%, trong khi ruộng công chỉ chiếm 4,3% với hơn 15 mẫu. Phần lớn nông dân thuộc tầng lớp tự canh với quy mô canh tác bình quân 2,34 mẫu trên mỗi chủ hộ, phản ánh thành quả khai phá độc lập của các dòng họ lưu dân.

Tên gọi Mô Xoài đã biến đổi như thế nào qua các thời kỳ lịch sử? Tên gọi phát triển qua các giai đoạn: Ban đầu là địa danh dân gian Mô Xoài thời chúa Nguyễn thế kỷ XVII, sau đó triều đình nhà Nguyễn đặt tên hành chính Hán Việt là đạo Hưng Phúc, và đến cuối thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp đổi tên toàn bộ đơn vị hành chính thành tỉnh Bà Rịa.

Mạng lưới giao thông thủy có vai trò ra sao đối với sự phát triển của Mô Xoài? Hệ thống sông Dinh và rạch Cỏ May tạo thành trục giao thông huyết mạch, kết nối hải trình 20 km ra cửa Lấp và gần 70 km lên ngã ba Nhà Bè. Mạng lưới này giúp vận chuyển muối biển, lâm thổ sản và đóng vai trò trạm chuyển tiếp công văn quân sự bảo vệ toàn bộ miền Đông Nam Bộ.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng thành công không gian văn hóa xứ Mô Xoài với tư cách là tiền đồn khai phá đầu tiên của người Việt tại vùng đất Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII.
  • Công trình định vị chuẩn xác vùng lõi lịch sử gồm bốn thôn cổ Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên, Long Xuyên tương ứng với địa bàn trung tâm thành phố Bà Rịa hiện nay.
  • Nghiên cứu xử lý định lượng toàn diện hệ thống địa bạ năm 1836, chứng minh cơ cấu ruộng tư chiếm 95,7% và phản ánh sự nỗ lực kiên trì của 144 chủ sở hữu tiên phong.
  • Bức tranh kinh tế - xã hội truyền thống được làm sáng tỏ qua sự kết hợp nhịp nhàng giữa nông nghiệp lúa nước hai vụ, nghề làm muối lâu đời và mạng lưới thương mại đường thủy sầm uất.
  • Các giá trị di sản văn hóa như lễ hội Kỳ yên đình Long Hương và thành lũy cổ được khảo sát thực địa kỹ lưỡng, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn đương đại.

Trong giai đoạn 2026-2030, các bước nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng số hóa bản đồ địa bạ và đẩy mạnh liên kết liên ngành nhằm phát huy tối đa giá trị di sản xứ Mô Xoài. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm vui lòng kết nối để cùng khai thác, bảo tồn và lan tỏa nguồn tài nguyên lịch sử - văn hóa vô giá của miền đất địa đầu mở cõi.