Chương 1 NGƯỜI CHINH PHỤ, CUNG NỮ VÀ SỐ PHẬN CỦA HỌ TRONG LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC 1. Người chinh phụ trong lịch sử và văn học 1. Khái niệm Từ “chinh phụ” được hiểu theo nghĩa chung là vợ của những người ra trận chinh chiến. Theo Từ điển tiếng Việt: “Chinh phụ là vợ của người đàn ông đang đi đánh trận thời phong kiến”(1).
Tuy nhiên, từ Hán Việt này thường được dùng trong văn chương nhà nho theo một nghĩa trang trọng, chỉ phu nhân của những người có chức tước đi đánh trận phương xa. Họ không phải là những nông dân lam lũ, có đời sống vật chất thiếu thốn. Chẳng hạn trong ca dao, người vợ có chồng ra trận mạc được gọi một cách dân dã là người “vợ lính”: Kìa ai tiếng khóc nỉ non, Ấy vợ lính mới trèo hòn Đèo Ngang. Chém cha cái giặc chết hoang, (1) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2010, 1562 trang.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vò ThÞ Hoµi Cao häc v¨n häc K51 Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng. Gánh từ xứ Bắc, xứ Đông Đã gánh theo chồng, lại gánh theo con Người vợ trong ca dao có tiếng nói hồn hậu, mạnh mẽ, ngôn ngữ gần gũi, thân thuộc với đời sống nhân dân lao động. Trong khi đó, ở các tác phẩm văn học viết thời kỳ trung đại của Việt Nam, từ chinh phụ đều có ý hàm chỉ đến những phụ nữ quý tộc. Như trong Chinh phụ ngâm, nhắc đến chàng là “trang phong lưu”, “vốn dòng hào kiệt”, cũng bạn bút nghiên”, được so sánh với các danh tướng như Giới Tử, Phục Ba, Ban Siêu, Tần, Hoắc.
Nàng thì biết dạy con đèn sách, biết gõ sênh ngọc, ôm đành tranh, có gương lầu Tần, thoa cung Hán… Chinh phụ được miêu tả là người có nhan sắc, là “khách má hồng” trong khuê phòng chịu nhiều nỗi truân chuyên khi phải xa chồng. Nhưng nỗi khổ của họ không nằm ở chỗ thiếu thốn vật chất, tất bật mẹ già con thơ mà chủ yếu được khắc họa về mặt nội tâm, nỗi u sầu trông ngóng cùng muôn vàn cảm xúc khác. Điều này có thể được lý giải bởi tác giả của những khúc ngâm viết về người chinh phụ đều là các nhà nho, tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến. Nhân vật trong các tác phẩm của nhà nho chủ yếu là người gần gũi với tầng lớp của họ, nếu nam giới là các bậc hiền nhân quân tử, những chàng trai công tử phong lưu tài tình, phụ nữ là những người tài sắc, như cung nữ, kỹ nữ, công chúa, vợ của nho sĩ… Không phải nhiều nhà nho viết về những người lang thang khốn khổ như Nguyễn Du viết về ông lão hát rong, người mẹ dẫn đàn con đi ăn xin trên đường… Tuy nhiên, mặc dù viết về những nhân vật không hẳn gần gũi với đại đa số người dân, nhiều tác phẩm của các nhà nho đặc biệt là khúc ngâm và truyện thơ vẫn được nhiều người bình dân yêu mến và đón nhận.
Trường hợp điển hình nhất là Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm (bản dịch sang thơ Nôm theo thể song thất lục bát). Những nhân vật này có sức hấp dẫn bởi chứa đựng những tình cảm đời thường, nỗi đau nhân tình và số phận bất hạnh của họ nhận được nhiều sự đồng cảm của mọi người. Trong văn học Việt Nam, từ chinh phụ gắn chủ yếu với các tác phẩm trong thế kỷ XVIII, XIX. Từ này cũng chỉ được dùng trong văn chương của các nhà nho thời 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vò ThÞ Hoµi Cao häc v¨n häc K51 kỳ trung đại.
Thuật ngữ chinh phụ sau này không còn được sử dụng trong văn học hiện đại và lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân. Một số gương chinh phụ được nhắc đến trong lịch sử trung đại Việt Nam Trong sử sách Việt Nam rất ít khi ghi chép về các nhân vật nữ, ngay cả những nhân vật nữ trong triều đình như hoàng hậu, phi tần, công chúa. Những nhân vật được ghi danh phải là các nữ anh hùng như Bà Triệu, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bùi Thị Xuân… Tuy nhiên trường hợp đặc biệt, một số người phụ nữ bình thường lại được ghi tên vào sử sách và được vua quan và nhân dân lập miếu thờ. Đó là những chinh phụ tuẫn tiết khi biết tin chồng mình đã thiệt mạng nơi chiến trường.
Chẳng hạn như trong Thần nữ và liệt nữ Việt Nam, nhắc đến gương một người vợ tuẫn tiết theo chồng. Đó là bà Phan Thị Thuấn, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là vợ thứ 3 của ông Ngô Cảnh Hoàn. Ông là tướng quân nhà Trịnh, dưới quyền của Hoàng Phùng Cơ, được giao trấn giữ ở bến Thúy Ái, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Quân Tây Sơn tiến ra Bắc để lật đổ họ Trịnh. Trịnh Khải bỏ chạy, quân Lê Trịnh tan tác, riêng có Ngô Cảnh Hoàn cố cầm cự trên sông nhưng cũng trúng đạn mà tử trận. Cả họ hàng và làng quê thương khóc, riêng bà Thuấn, lúc ấy 20 tuổi, vẫn thản nhiên như không có chuyện gì. Bà thu xếp đưa mấy người họ hàng ra Bắc đến chùa Kiến Sở ở làng Phù Đổng, làm lễ cáo gia tiên, vĩnh biệt họ hàng, nói những lời tuyệt mệnh: “Chồng chết vì việc nước, tôi xin đi theo để trọn nghĩa cùng chồng”.
Nói xong, chèo thuyền con ra giữa dòng, gieo mình xuống nước. Vua Lê Chiêu Thống phong bà là Tiết liệt phu nhân. Nhân dân lập đền thờ bà ở bến Thúy Ái. Sau này trong sách Đại Nam thực lục chính biên có ghi “Năm Tự Đức thứ 12, có lệnh dựng bia liệt nữ Phan Thị Thuấn” [9, tr.
Cuốn Thần nữ và liệt nữ Việt Nam còn nhắc đến thiếu phụ Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương (Lý Nhân, Hà Nam). Nàng là nhân vật có thật, được ghi trong sử sách và cũng đi vào văn học (Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ). Nàng là người con gái xinh đẹp, lại nết na, cưới chồng chưa được bao lâu thì chồng đi đánh giặc Chiêm Thành. Đêm đêm ở nhà nàng thường chỉ bóng mình trên vách bảo đứa con nhỏ rằng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vò ThÞ Hoµi Cao häc v¨n häc K51 đó là bố.
Khi người chồng trở về, đứa con không chịu nhận cha, nói rằng đêm nào bố cũng đến, mẹ đi bố đi, mẹ ngồi bố ngồi. Người chồng vốn hay ghen, cho rằng vợ phản bội nên hết sức ruồng rẫy. Vũ Thị phải nhảy xuống sông tự tử để chứng minh sự vô tội của mình. Nàng được nhiều người ca ngợi là liệt nữ, được lập đền thờ, sau này được vua Lê Thánh Tông đề thơ ca ngợi (bài Hoàng Giang điếu Vũ Nương và Điếu Vũ Nương).
Trong luận án Tiến sĩ, tác giả Nguyễn Nam cho biết, có ít nhất 6 văn bản viết về Vũ thị trong đó tôn xưng nàng là liệt nữ. Có thể phỏng đoán rằng, trong thực tế có rất nhiều liệt nữ vô danh, những người vợ dám chết theo chồng để giữ gìn danh tiết hoặc ở vậy cả đời thờ chồng, nuôi con. Một số gương liệt nữ được vua chúa, nho gia ca tụng, lập đền thờ ít nhiều gắn với mục đích giáo huấn, nêu gương, định hướng đạo đức cho người đời sau. Sử sách Việt Nam không ghi chép nhiều về những liệt nữ như trong sử sách Trung Quốc.
Nếu như ở Trung Quốc có hẳn một loại sách riêng là liệt nữ truyện thì ở Việt Nam hầu như không có, họa chăng chỉ là những cuốn sách người đời sau sưu tầm, tổng hợp lại. Có thể ở Việt Nam không có sách liệt nữ truyện mà chỉ có những ghi chép lẻ tẻ, bởi các nhà nho của chúng ta không hô hào tiết liệt mạnh mẽ, cực đoan như Trung Quốc. Người chinh phụ trong văn học Viết về chinh phụ là đề tài xuyên suốt trong các tác phẩm cổ điển Trung Quốc, không chỉ gói gọn trong một, hai thế kỷ như ở Việt Nam. Lịch sử Trung Quốc thời kỳ cổ, trung đại chứng kiến những cuộc chiến tranh xảy ra liên miên, từ cuộc chiến giữa các nước nhỏ với nhau đến chiến tranh chống giặc ngoại xâm, nội chiến dập tắt các cuộc khởi nghĩa, đảo chính, chiến tranh ổn định các vùng chư hầu hay xâm lược láng giềng.
Trong Kinh thi, cuốn sách ghi lại những bài thơ do nhân dân sáng tác được Khổng Tử ghi chép lại, nhân vật người chinh phụ đã được nhắc đến. Bài thơ Bá hề trong Kinh thi: Chàng là người uy vũ anh hùng Tài năng trội nhất ở trong nước này 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vò ThÞ Hoµi Cao häc v¨n häc K51 Cây thù cầm chắc trong tay Tiên khu đột trận ra tài giúp vua Từ ngày chàng tách sang đông, Đầu em rối tựa hoa bồng cuộn bay Há không thoa sáp, gội cài? Vắng chàng, trang điểm cho ai ngắm nhìn? Bài thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, có ảnh hưởng mạnh tới các thi nhân sau này. Nhiều nhà thơ khi viết về hình ảnh chinh phụ nhớ chồng hoặc cô gái xa người yêu đã sử dụng tứ thơ “thủ như phi bồng” và “thùy đích vi dung”. Mô típ đầu bù tóc rối không chải chuốt, mặt mộc không phấn son vì vắng chàng cũng được Đặng Trần Côn lặp lại trong Chinh phụ ngâm để tạo nên những hình ảnh thơ có sức khơi gợi.
Đời Đường là thời kỳ phát triển rực rỡ của thơ ca Trung Quốc với rất nhiều nhà thơ tài năng. Đặc biệt rất nhiều thi nhân thời này sáng tác theo cảm hứng lãng mạn như Lý Bạch, Vương Xương Linh,. Nhiều sáng tác của họ đề cập tới tình yêu lứa đôi, nỗi buồn ly biệt, nỗi nhớ nhung, chờ đợi. Các tác giả Trung Quốc có riêng một dòng thơ khuê oán xuyên suốt nhiều giai đoạn.
Trong đó, thơ viết về chinh phụ cũng không ít. Những sáng tác này ảnh hưởng mạnh mẽ tới sáng tác của Đặng Trần Côn. Một trong những bài thơ Đường để lại dấu ấn trong Chinh phụ ngâm là Khuê oán của Vương Xương Linh: Thiếu phụ ở chốn khuê phòng Không biết đến nỗi buồn rầu Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu thúy Chợt thấy ở đầu đường màu xanh tươi của cây dương liễu Lòng hối hận đã để chồng đi ra trận Mà kiếm làm chi ấn phong hầu. Tứ thơ người chinh phụ bước lên lầu trông ngóng và hối hận vì đã để chồng ra chiến trận biền biệt có ảnh hưởng ít nhiều đến Chinh phụ ngâm.
Còn Tư chinh phu của Tào Phi lại miêu tả nỗi cô đơn của thiếu phụ trên chiếc giường trống vắng: Sao chàng ở mãi nơi tha phương 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vò ThÞ Hoµi Cao häc v¨n häc K51 Để thiếp vò võ giữ phòng không Ánh trăng sáng bạch giường thiếp ngủ.