mở đầu bi kịch Trần Dần, được Hoàng Cầm cho đăng trên Giai phẩm mùa xuân khi Trần Dần đang đi học tập Cải cách ruộng đất ở Bắc Ninh. Cùng năm này, tháng 10 tại Sài Gòn, nhóm văn học Sáng Tạo ra đời gồm Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ.với tham vọng đưa thơ Mới vào quá khứ, mở ra một trang khác cho lịch sử thơ ca. Tất nhiên, văn nghệ sĩ hai miền, không nghe thấy tiếng gọi cách tân của nhau lúc này, để cùng hô ứng (Cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí ở miền Nam có điểm mặt các văn sĩ đòi tự do sáng tạo ở Bắc Hà). Trong hoàn cảnh đất nước chưa thống nhất, mục tiêu chính trị lớn của dân tộc chưa đạt được, thì hành động đòi tự do sáng tạo này dễ bị coi là sự chối bỏ trách nhiệm mà các nhà văn được uỷ thác từ lúc nhận đường (1945).
Thế nên, tuy Trần Dần không hề đơn độc, nhưng tiếng nói của các nhà văn thông qua Báo Nhân văn và tập Giai phẩm đã sớm bị làm cho im bặt, khi ngày 5/6/1958, Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ hoan nghênh kết quả thắng lợi của cuộc đấu 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm. Kết quả: các cây bút liên quan bị kỉ luật. Trần Dần chính thức bị khai trừ khỏi Hội nhà văn và đình chỉ xuất bản trong thời hạn 3 năm. Trong thời gian nóng bỏng này, tại Liên Xô, Ba Lan, CHDC Đức, chỉnh huấn văn nghệ đều đồng loạt diễn ra.
Sau những tháng ngày đi lao động cải tạo tại nông trường Chí Linh cùng với Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử Phác, đầu năm 1959, ông được phân công dịch các tác phẩm văn học của nước ngoài, chủ yếu là văn học Nga và Pháp, ở ga-ra Hội Nhà văn. Lần đi cải tạo tiếp sau đó, tại khu gang thép Thái Nguyên, Trần Dần ghi trong nhật kí: “Tôi đang gặp kì tứ khổ: 1. khổ lao động nặng. khổ đối xử.
khổ nắng mưa bất nhất, đùng đến đùng đi”. Dẫu vậy, Trần Dần vẫn tìm cách biến tứ khổ thành tứ khoái: “Tôi vẫn có: 1. khoái làm thơ. khoái thu tài liệu.
khoái dự định viết. Khoái nhìn nghe, ngẫm ngợi và hy vọng” [18,tr. Khối lượng công việc nặng “một quãng ngày 2, 3 tấn trở lên” vẫn không ngăn nổi ông, mỗi đêm về, trong cái nóng như lò hun và cái rét đột ngột của Thái Nguyên, thay đổi sửa chữa và hoàn thành Cổng tỉnh. Sự gắng sức và mệt óc đó đã khiến Trần Dần kiệt sức và ốm nặng.
Trở về Hà Nội, kể từ đó, ông sống âm thầm bằng nghề dịch sách, đứng ngoài mọi sinh hoạt văn chương chính thống. Cách tham dự của kẻ ngoài lề (1961 -1997) Suốt gần 40 năm sau vụ Nhân văn, cuộc đời Trần Dần thưa vắng sự kiện - sự kiện theo nghĩa là kết quả của sự dấn thân ngoài xã hội. Rất nhiều nhân vật của Nhân văn đã ngưng con đường sáng tạo sau tấn bi kịch đó. “Họ mãi dừng lại ở cột mốc ấy và chỉ còn ngoảnh lại phía sau.
Với Trần Dần, cột mốc ấy, ngược lại, đánh dấu một sự lên đường quyết liệt hơn, là thời gian sung sức nhất cho tích luỹ và sáng tạo” [35]. Các tác phẩm liên tiếp ra đời tạo thành niên biểu đích thực của một nhà văn - Cách thức dấn thân của một kẻ ngoài lề: Đêm núm sen (tiểu thuyết – 1961), Jờ Joạcx (thơ -tiểu thuyết - một bè đệm, 1963), Mùa sạch ( thơ, 1964), Những ngã tư và những cột đèn (tiểu 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết, 1964), Một ngày Cẩm Phả (tiểu tuyết, 1965), Con trắng (thơ -hồi kí, 1967), 177 cảnh (hùng ca lụa), Động đất tâm thần (nhật kí – thơ, 1974), Thơ không lời (thử nghiệm thơ thị giác, 1976), Thơ không lời – mây không lời (thơ - họa), Bộ tam thiên thanh -77 ngày ngày (1979), Bộ tam 36 thở dài – Tư Mã dâng sao (1980), Thơ mini (1987)…Chỉ những người trong cuộc, gần gũi mới biết Trần Dần đã đi qua những năm tháng đó ra sao. Bởi Trần Dần sống và sáng tạo chủ yếu trong tình thế: người viết thì ngồi, cái được viết ra thì nằm. Mà cuộc mưu sinh không dễ.
Trong gần 40 năm, viết mà không một phản hồi, thúc giục, xuất bản, Trần Dần đã cho thấy sự kiên định phi thường của ông. Điều mà hiếm nhà văn làm được, ngay cả những nhà văn lớn trên thế giới. Như Milan Kundera bàn về trường hợp Kafka: “Kafka cũng đã là nạn nhân của sự nhỏ bé của môi trường của mình. Ông bị cách ly với thế giới văn học và nhà xuất bản Đức, và điều đó với ông là trí mạng.
Con trai một người chủ xuất bản lớn ở Đức có viết một cuốn sách chứng minh rằng đó là lí do có khả năng hơn cả khiến Kafka không hoàn thành các cuốn tiểu thuyết mà không ai đòi hỏi ông cả. Bởi nếu một tác giả không có triển vọng xuất bản những tác phẩm của mình, thì chẳng có gì thúc giục anh hoàn tất nó, chẳng có gì ngăn anh tạm thời gạt nó sang một bên và chuyển sang làm việc khác” [44,tr. Có một khía cạnh nhỏ nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên một Trần Dần uyên thâm và hiện đại. Đó là những năm tháng dịch các tác phẩm văn học nước ngoài.
Nhờ đó, ông có điều kiện tiếp xúc với nguồn sách ngoại văn khổng lồ của Thư viện Quốc gia, nói theo cách của Lê Đạt là “du học tại chỗ. Lúc đó cũng may rằng anh em Việt kiều ở Paris vừa biếu Việt Nam một loạt sách về hoạt động những năm 50 của Pháp, tức là những năm sôi nổi nhất về hoạt động trí tuệ Pháp, nào là phái cấu trúc, nào là phái phê bình mới, Roland Barthes” [42]. Cần thấy rõ một thực tế, một số nhân vật tiêu biểu của Nhân văn có trình độ ngoại ngữ cao, ngoài Trần Đức Thảo là người thường xuyên tiếp xúc với ngoại văn thông qua những tờ báo 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến bộ của nước ngoài, Trần Dần đã chứng tỏ ông thông thạo ngoại ngữ qua những tác phẩm dịch, như: Thơ Maiacôpxki, Tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt của Đôttôiepxki, Căn cứ nguyên tử của Laxmex, Truyện ngắn Pháp, một số sách dịch khác không ghi tên của nhà văn, ví dụ bộ ba tiểu thuyết dịch Jăc Vanhtrax (trilogie) gồm Chú bé, Cậu Tú, Người khởi nghĩa. Một người học vào loại xuất sắc thời Pháp, tư duy sắc sảo như Trần Dần mà, mấy chục năm trời, ngày này qua ngày khác, miệt mài đọc và tích luỹ, thì kết quả của cái sự đọc ấy là không thể nhỏ.
Và sự thực theo cách này, Trần Dần sớm thẩm thấu trực tiếp thành tựu của khoa học nhân văn (và không ít thành tựu khoa học tự nhiên) trên thế giới. Thiết nghĩ đây là nguyên nhân sâu sắc dẫn tới sự thay đổi thi pháp của Trần Dần, khiến ông dứt khoát đoạn tuyệt với lối thơ của mình giai đoạn trước. Con người Trần Dần Dương Tường khi nhớ về Trần Dần, đã khẳng định: “Trong nhãn chữ của tôi, Trần Dần là một người khổng lồ, cái nòi mà ở thời nào và nơi nào cũng hiếm” [41]. Ông là một ca rất đặc biệt trong văn học hiện đại, người chịu nhiều hiểu nhầm (hay bị không hiểu) nhất trên cả bình diện văn học lẫn chính trị và xã hội.
Trong một thời gian dài (cái dài đáng sợ với hầu hết ai rơi vào tình cảnh đó vì nó chiếm quá nửa đời người, cả sau cái chết), Trần Dần liên tục chịu nhiều điều tiếng. Phía bên ngoài đa số nhìn ông như một người tuẫn đạo hay chống đối. Không phủ nhận yếu tố đó trong con người Trần Dần, nhưng đó chỉ là cách biểu hiện tất yếu của một tính cách quyết liệt, thẳng thắn nhiều khi đến cực đoan trong nghệ thuật của ông. Những ai gần gũi thân thiết ông đều cho rằng Trần Dần là một người yêu ghét rõ ràng, sự yêu ghét không nhắm vào chuyện đời cụ thể.
Chuyện đời ông dễ dàng bỏ qua, nhưng chuyện văn thì không. Đơn giản vì “ông thậm duy mỹ mà sâu xa và có một giác quan không thể đánh lừa cho mọi giá trị thực. Điều đó kéo theo sự trân trọng và ngưỡng mộ, rất bất chấp, rất hồn nhiên của ông trước 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những tài năng và nhân cách thật…đồng thời sự thẳng thắn đến phũ phàng của ông trước những thứ của rởm cũng không chừa bạn bè thân thích” [35]. Nên, nhắc tới Trần Dần, người ta thường không quên hình ảnh hai con mắt “hiếp đáp thiên hạ” của con cọp ngày, kẻ kiệm lời nhưng mỗi lời nói ra đều có uy dũng riêng của nó.
Sự hấp dẫn, nét cuốn hút của con người Trần Dần khởi từ đó, nhưng hoạn nạn của đời ông cũng bắt nguồn từ sự không chịu “lùi một li chữ” này. Dương Thụ nhớ lại, có lần nhạc sĩ bị stress nên đôi khi lơ đãng đến mức đãng trí, thì Trần Dần bảo: “Đãng trí đến mức mất trí từng lúc cũng được, vì nó chỉ tạm thời. Căng thẳng nhìn thấy được là căng thẳng còn đang quá độ, chưa đủ mức, phải chữa bằng căng thẳng nữa, căng thẳng tăng cường, đủ mức nó sẽ bình thường. Dù sao mắc bệnh ấy còn hơn là mắc bệnh nhạt” [41].
Vì theo ông, đáng sợ nhất ở nước ta chính là bênh nhạt. Cuối những năm 80, khi phong trào hát lại nhạc tiền chiến rộ lên trong các tụ điểm âm nhạc, trò chuyện với một nhạc sĩ, Trần Dần vẫn cho rằng nhạc tiền chiến là nhạc lãng mạn cuối mùa, là nhạc nhạt. Mà nhạt, trong tự điển ngôn ngữ của riêng ông, bị đẩy gần nghĩa với cái sa đoạ, cái thấp và cái bẩn. Các bạn văn nghệ sĩ của Trần Dần cũng không phải đã có ngay cách đánh giá thống nhất về ông, nhưng tất cả đều nhất trí khi Lê Đạt cho rằng: Trần Dần vượt tất cả chúng tôi một đầu về lòng tận tuỵ chữ.
Chỉ cần biết ông, trong dằng dặc những ngày sau vụ Nhân văn, đã đương đầu với cuộc mưu sinh và gìn giữ lòng yêu nghệ thuật: ngày vã mồ hôi dịch sách đêm lại thức mờ mắt tô ảnh màu để kiếm sống nhưng rảnh một phút là viết, viết hăm hở, mải mê. Một chiều mùa đông, Lê Đạt tới thăm, thấy Trần Dần ngồi bên góc nhà tối, dưới ngọn đèn hoa kì leo lét, mặt rạng rỡ như một người vừa trúng số độc đắc. Mới đó, Trần Dần có nhờ Lê Đạt vay hộ một số tiền. Lê Đạt thấy Trần Dần sung sướng như vậy tưởng Trần Dần đã vay đâu được tiền nhưng không phải.