Chương 1: SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC Ở MỸ I Lịch sử hình thành nước Mỹ 1) Đặc điểm giai đoạn thời cận đại Thời cận đại trong lịch sử thế giới bắt đầu từ năm 1640 và kết thúc vào năm 1900. Giai đoạn này chủ yếu là lịch sử thăng tiến và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, thời kỳ thăng tiến của chủ nghĩa tư bản không thể tách rời được với việc cướp bóc ở những vùng đất thuộc địa bên ngoài và sự bóc lột đối với nhân dân lao động trong nước. Do vậy, nó có mặt tiêu cực của nó.
Tuy nhiên, nếu đem so sánh với chế độ phong kiến trong thời trung cổ, thì nói cho cùng nó vẫn là một bước tiến to lớn trong lịch sử. “Sự sáng tạo sức sinh sản của giai cấp tư sản trong khoảng thời gian họ thống trị chưa đến 100 năm, vẫn nhiều hơn so với toàn bộ sự sáng tạo sức sản xuất của tất cả những thời đại trước. “Đó là công lao và thành tích vĩ đại của giai cấp tư sản. Hơn nữa, về mặt văn hóa tinh thần trong giai đoạn này như triết học, văn học, sử học, nghệ thuật và tư tưởng chính trị xã hội đều có những thành tựu sáng chói.
Kế đó, trong quá trình lâu dài chống lại chế độ phong kiến của giai cấp tư sản, chẳng những họ lật đổ được chế độ phong kiến mà còn phá tan được sự thống trị thần quyền và chủ nghĩa mông muội đã xiềng xích tâm linh con người; lật đổ được chế độ quân chủ tuyệt đối và chủ nghĩa chuyên chế bóp chết tự do cá nhân và mầm sống của xã hội; xây dựng một chế độ dân chủ của giai cấp tư sản thích ứng với sự phát triển xã hội, kinh tế và văn hóa. Sau hết, do sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã dần dần xóa bỏ được trạng thái ngăn cách giữa các khu vực, làm cho cả thế giới trở thành một khối hoàn chỉnh. Lịch sử cận đại của thế giới có thể chia thành hai thời kỳ chủ yếu. Thời kỳ thứ nhất bắt đầu từ năm 1640 đến năm 1870.
Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ năm 1871 đến năm 1900. Thời kỳ thứ nhất chính là thời kỳ chủ nghĩa tư bản xác lập và giành được thắng lợi ở những nước tiên tiến Âu Mỹ, cũng tức là thời kỳ chủ nghĩa tư bản “tự do”. Thời kỳ thứ hai là thời kỳ chủ nghĩa tư bản “tự do” chuyển sang chủ nghĩa tư bản lũng đoạn. SVTH: LEÂ THANH HIEÄP Trang 5 Luaän Vaên Toát Nghieäp GVHD: TS.
VUÕ QUANG HAØ Sự xác lập và sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở các nước Âu Mỹ được hoàn thành qua hàng loạt những cuộc cách mạng và cải cách của giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng của giai cấp tư sản tại Anh, lần đầu tiên đã lật đổ được chế độ phong kiến của một nước lớn ở Châu Âu, xác lập được chủ nghĩa tư bản. Nó đã thúc đẩy những phong trào cách mạng của giai cấp tư sản Pháp và một số nước khác ở Châu Âu phát triển lên. Cuộc chiến tranh giành độc lập xảy ra ở nước Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 18 là cuộc cách mạng thứ hai của giai cấp tư sản trong lịch sử cận đại.
Nó đã lật đổ được sự thống trị của thực dân Anh tại vùng Bắc Mỹ, xây dựng được nước hợp chủng quốc Hoa Kỳ, từ đó đảm bảo cho sự phát triển thuận lợi của chủ nghĩa tư bản ở nước Mỹ. Cuộc đại cách mạng ở Pháp bùng nổ vào cuối thế kỷ 18 đã mở ra một con đường cho chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu phát triển và giành được thắng lợi. Cuộc đại cách mạng ở Pháp là cuộc cách mạng của giai cấp tư sản có ảnh hưởng tương đối lớn trong thời đại chủ nghĩa tư bản “tự do”. Sau cuộc đại cách mạng ở Pháp, phong trào đấu tranh mang tính chất dân chủ và dân tộc của giai cấp tư sản tại nhiều quốc gia ở Châu Âu, cũng như phong trào quần chúng nhân dân chống chế độ phong kiến đã liên tiếp xảy ra không bao giờ chấm dứt.
Dưới tình trạng chia năm xẻ bảy ở nước Đức và Ý; dưới sự thống trị chuyên chế phong kiến ở Tây Ban Nha; dưới chế độ nông nô ở Nga; cũng như tại Hy Lạp đang chịu sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ, những phong trào cách mạng đã liên tục xảy ra. Tại các vùng đất thực dân của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ở Châu Mỹ cũng bùng nổ những cuộc đấu tranh giành độc lập trong trào lưu chung của thời kỳ cách mạng này, đồng thời, họ đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Sự thắng lợi qua những cuộc cách mạng của giai cấp tư sản đã dọn đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, tạo điều kiện cho sự bùng nổ một cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ trước tiên ở Anh (vào cuối thể kỷ thứ 18).
Đến đầu thế kỷ thứ 19, tại các nước Pháp, Mỹ và Đức đã lần lượt tiến vào thời đại cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp chẳng những có nghĩa là nền thủ công tư bản chủ nghĩa đã bước sang nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, mà nó còn làm thay đổi một cách sâu sắc và rộng rãi cục diện xã hội, trong đó có sự hình thành giai cấp vô sản và đã phát triển thành một lực lượng chính trị độc lập SVTH: LEÂ THANH HIEÄP Trang 6 Luaän Vaên Toát Nghieäp GVHD: TS. VUÕ QUANG HAØ mạnh mẽ, to lớn. Cuộc khởi nghĩa lớn của công nhân xảy ra tại Lyon ở nước Pháp vào những thập niên 30 và 40 của thế kỷ thứ 19, cũng như cuộc khởi nghĩa của công nhân tại Silesia ở Đức và phong trào Hiến Chương ở Anh, đã thể hiện rõ giai cấp vô sản có thể bước lên vũ đài chính trị một cách độc lập.
Theo đà phát triển của những cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, đến thập niên 40 của thế kỷ thứ 19, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã phát triển thành chủ nghĩa xã hội khoa học; chủ nghĩa Marx – lý luận cách mạng của giai cấp vô sản đã xuất hiện. Tháng 2 năm 1848, bản Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản do Marx và Engels cùng soạn thảo đã được công bố. Đó là một văn kiện có tính cương lĩnh đầu tiên trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản. Nó đã dẫn giải một cách khoa học và toàn diện quy luật phát triển của xã hội và nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản; vạch rõ quy luật khách quan của sự phát triển là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản; vạch rõ sứ mệnh lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản và luận chứng về tính tất nhiên một cuộc cách mạng của giai cấp vô sản.
2) Lịch sử hình thành nước Mỹ 2.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị Nước Mỹ trước khi độc lập, là 13 vùng đất thực dân do nước Anh xây dựng trên bờ biển Đại Tây Dương thuộc vùng Bắc Mỹ. Mười ba vùng đất này lần lượt được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ 17 cho đến giữa thế kỷ thứ 18. Người da trắng cư trú trên những vùng đất thực dân này đến từ châu Âu, chủ yếu là những người di dân từ Anh, đại đa số đều là nhân dân lao động. Người da đen trong số cư dân này được chở từ châu Phi sang bán để làm nô lệ.
Người Indians là cư dân sống từ lâu ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên những người trong số họ, hoặc bị đuổi đến vùng hoang mạc khô cằn, một số khác bị chém giết thẳng tay, ruộng của họ đều bị người da trắng cướp lấy. Chế độ xã hội tại những vùng nguồn đất thực dân ở Bắc Mỹ, ngoài chế độ tư bản chủ nghĩa còn có chế độ tá điền nửa phong kiến và chế độ nô lệ. Chế độ phong kiến tá điền được mang từ Anh sang, đồng thời nó liên hệ chặt chẽ với chế độ sở hữu đất đai lớn.
Do đó để bảo vệ ruộng đất của đại địa chủ, tại nhiều vùng đất thực dân còn thực hiện chế độ con cả thừa kế. Tại vùng trung bộ và vùng nam bộ có một số khu vực thực dân còn thi hàng cái gọi là luật thừa kế có hạn định, tức là những người có địa vị nhất định mới có quyền thừa kế tài sản và ruộng đất. Chế độ trưởng SVTH: LEÂ THANH HIEÄP Trang 7 Luaän Vaên Toát Nghieäp GVHD: TS. VUÕ QUANG HAØ nam thừa kế cũng như luật thừa kế có hạn định đều thể hiện sự tàn dư của chế độ phong kiến.
Tuy nhiên, chế độ tá điền nửa phong kiến không phải là phổ biến và phát triển ra khắp các vùng thực dân, mà nó chỉ giới hạn ở một số khu vực thuộc những vùng đất thực dân ở trung bộ. Chế độ sở hữu ruộng đất tiểu nông là một hiện tượng rất phổ biến. Dưới chế độ này, người nông dân là sở hữu chủ của một mảng đất nhỏ và cũng là người lao động. Nhưng trên thực tế họ vẫn bị những thương nhân lớn bóc lột.
Vì các nông sản dư thừa của họ đều phải bán cho các thương gia, để các người này chuyển ra bán ở các thị trường. Trong khi đó, các đại thương gia luôn phải ép giá để mua rẻ và bán rẻ với một giá cao. Trong các mối quan hệ bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa ở vùng đất thực dân Anh này, dã man nhất phải kể đến là chế độ nô lệ. Nó được các nhà địa chủ và các nhà tư bản tại các vùng đất thực dân xây dựng lên.
Chế độ nô lệ có thể chia làm hai loại: một loại là chế độ nô lệ có khế ước của người da trắng và một loại khác là chế độ nô lệ của người da đen. Tại những nông trại ở phía nam, người nô lệ da đen bị áp bức hết sức thê thảm. Đời sống của họ còn thua cả trâu ngựa, họ luôn luôn phải lao động dưới roi vọt của những tên giám công. Chủ nô có thể tuy tiện ngược đãi nô lệ.
Cứ vi phạm một tí gì đó thì người nô lệ bị hình phạt trên nhục thể, thậm chí người nô lệ có thể bị giết chết mà không ai làm gì được chủ nô. Vì pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi của chủ nô. Đến thế kỷ thứ 18, chế độ nô lệ da đen có khuynh hướng thay thế dần chế độ khế ước của người da trắng. Chế độ kinh tế xã hội phức tạp trên các vùng đất thực dân, cũng quyết định mối quan hệ giai cấp phức tạp như thế.