Khóa Luận Tốt Nghiệp: Tìm Hiểu Về Làng Diêm Phố Tại Xã Ngư Lộc, Huyện Hậu Lộc, Tỉnh Thanh Hóa

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp tìm hiểu làng diêm phố tại xã ngư lộc huyện hậu lộc tỉnh thanh hóa, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Tác giả

Lê Thị Hà Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

90
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LÀNG DIÊM PHỐ

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Bờ biển và biển

1.1.3. Đất đai và khí hậu

1.2. Lịch sử hình thành làng Diêm Phố

1.3. Chợ Diêm Phố xưa và nay

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ LÀNG DIÊM PHỐ

2.1. Vài nét về mùa vụ và tiềm năng nguồn lợi từ biển

2.1.1. Vụ cá Nam

2.2. Hoạt động mưu sinh

2.2.1. Nghề khai thác hải sản

2.2.2. Các nghề phục vụ nghề khai thác biển

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CỦA LÀNG DIÊM PHỐ

3.1. Bộ máy quản lý làng xã ở Diêm Phố

3.2. Các quan hệ xã hội và cộng đồng

3.2.1. Gia đình và dòng họ

3.2.2. Tổ chức giáp

3.2.3. Tổ chức phường hội

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TÌNH HÌNH VĂN HÓA, TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA LÀNG DIÊM PHỐ

4.1. Ngôn ngữ và văn học

4.2. Nghệ thuật kiến trúc

4.3. Văn hóa ẩm thực

4.4. Phong tục tập quán

4.5. Một số tín ngưỡng gắn với đời sống ngư dân làng Diêm Phố

4.5.1. Thờ thần, thánh

4.6. Một số lễ hội gắn với đời sống ngư dân làng Diêm Phố

4.6.1. Lễ hội Cầu ngư

4.6.2. Lễ đền Đức Ông

4.6.3. Lễ hạ thủy

4.7. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về làng Diêm Phố

Làng Diêm Phố, thuộc xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, nổi bật với nghề truyền thống đánh bắt hải sản. Làng nằm bên bờ biển, nơi có cảnh đẹp Ngư Lộcdi sản văn hóa phong phú. Diêm Phố không chỉ là nơi sinh sống của người dân địa phương mà còn là địa điểm du lịch hấp dẫn cho du khách. Nơi đây lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và lịch sử, phản ánh đời sống của ngư dân qua các thế hệ. Theo thống kê, làng có khoảng 600 hộ dân, chủ yếu sống bằng nghề đánh cá. Điều này cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa người dân và biển cả, nơi cung cấp nguồn sống chính cho họ.

1.1. Đặc điểm tự nhiên

Diêm Phố có bờ biển dài khoảng 1200m, thuộc loại bờ biển thấp, thường xuyên bị xói lở. Điều kiện tự nhiên ở đây rất đa dạng với hệ sinh thái phong phú. Vùng biển Diêm Phố có nhiều cửa sông, mang lại nguồn phù sa dồi dào cho ngư trường. Khám phá thiên nhiên nơi đây không chỉ giúp người dân phát triển kinh tế mà còn tạo ra những trải nghiệm thú vị cho du khách. Tuy nhiên, sự xâm thực của biển đã làm giảm diện tích đất canh tác, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Việc xây dựng hệ thống kè chắn sóng bằng bê tông đã giúp hạn chế tình trạng này, bảo vệ cuộc sống của người dân nơi đây.

II. Tình hình kinh tế của làng Diêm Phố

Kinh tế của làng Diêm Phố chủ yếu dựa vào nghề khai thác hải sản. Người dân nơi đây đã phát triển nhiều hình thức đánh bắt khác nhau như đánh bắt ven bờđánh bắt xa bờ. Các loại hải sản như cá, tôm, mực là nguồn thu nhập chính của ngư dân. Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc khai thác hải sản cũng gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Hoạt động mưu sinh của người dân không chỉ đơn thuần là kiếm sống mà còn là một phần văn hóa, thể hiện sự gắn bó với biển cả. Những năm gần đây, việc phát triển du lịch Thanh Hóa cũng đã góp phần nâng cao đời sống của người dân, tạo thêm cơ hội việc làm và thu nhập.

2.1. Nghề đánh bắt hải sản

Nghề đánh bắt hải sản ở Diêm Phố rất đa dạng với nhiều phương thức khác nhau. Người dân sử dụng các loại ngư cụ truyền thống như văng tay, lưới rênh, và nghề giã để khai thác hải sản. Mỗi phương thức đều có những đặc điểm riêng, phù hợp với từng loại hải sản và điều kiện thời tiết. Trải nghiệm du lịch tại làng Diêm Phố không chỉ giúp du khách hiểu rõ hơn về nghề nghiệp của người dân mà còn mang lại những trải nghiệm thú vị về văn hóa địa phương. Việc bảo tồn và phát triển nghề đánh bắt hải sản không chỉ giúp duy trì nguồn sống cho người dân mà còn góp phần bảo vệ di sản văn hóa của làng.

III. Tổ chức xã hội và bộ máy hành chính

Làng Diêm Phố có một hệ thống tổ chức xã hội khá chặt chẽ. Bộ máy quản lý làng xã được hình thành từ những ngày đầu lập làng, với các chức danh như trưởng làng, phó trưởng làng. Các mối quan hệ xã hội trong làng rất gắn bó, thể hiện qua các hoạt động cộng đồng và phong tục tập quán. Người dân thường xuyên tổ chức các lễ hội, sự kiện văn hóa để duy trì nghề truyền thống và tạo sự gắn kết trong cộng đồng. Sự phát triển của tổ chức xã hội không chỉ giúp người dân nâng cao đời sống mà còn bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc của làng.

3.1. Quan hệ xã hội

Quan hệ xã hội trong làng Diêm Phố rất phong phú và đa dạng. Người dân thường xuyên hỗ trợ lẫn nhau trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Các hoạt động cộng đồng như lễ hội, hội họp được tổ chức thường xuyên, tạo cơ hội cho người dân giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm. Nghề truyền thống không chỉ là nguồn sống mà còn là niềm tự hào của người dân nơi đây. Sự gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình và cộng đồng đã tạo nên một môi trường sống ấm áp, thân thiện, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa của làng Diêm Phố.

IV. Tình hình văn hóa tôn giáo tín ngưỡng

Văn hóa của làng Diêm Phố rất phong phú, thể hiện qua các phong tục tập quán và tín ngưỡng của người dân. Khám phá văn hóa nơi đây không chỉ giúp du khách hiểu rõ hơn về đời sống của ngư dân mà còn cảm nhận được sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Các lễ hội truyền thống như lễ hội cầu ngư, lễ hội đền Ông được tổ chức hàng năm, thu hút đông đảo người dân tham gia. Những hoạt động này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn là dịp để người dân thể hiện lòng biết ơn đối với biển cả, nơi đã cung cấp nguồn sống cho họ.

4.1. Tín ngưỡng và lễ hội

Tín ngưỡng của người dân Diêm Phố chủ yếu gắn liền với nghề đánh cá. Họ thường tổ chức các lễ hội để cầu mong một mùa màng bội thu, an toàn trên biển. Lễ hội cầu ngư là một trong những lễ hội lớn nhất, thể hiện lòng tôn kính của ngư dân đối với các vị thần bảo hộ. Những hoạt động này không chỉ mang lại niềm vui cho người dân mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa của làng. Qua đó, du khách có cơ hội trải nghiệm và tìm hiểu về văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu làng diêm phố tại xã ngư lộc huyện hậu lộc tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một năm làm ăn phát đạt và gặp nhiều may mắn vu mùa bội thu. Bởi vậy ở Diêm Phố đây là một ngày vui hiếm có trong năm. “Khi vào lộng lúc ra khơi Tháng 2 mùa vụ vậy thời ra quân. ” Cá biển ở Diêm Phố có mật độ khá dày đặc, trong đó giống cá thu, cá moi, nụ, lầm, giang.

xuất hiện nhiều. Chúng có đặc điểm đó là thịt cá béo và thơm là đặc sản của biển Diêm Phố. Tháng 3 khi gió nồm non xuất hiện, là thời cơ để đánh cá gúng. Năm nào cá gúng về cũng nhiều, kéo thành từng tía trải rộng 50-60m? trên mặt nước.

Vì thế đánh cá gúng không thể đánh độc lập cá nhân được, mà thường phải phối hợp cùng lúc nhiều lưới vây bọc. Trước đây ở Diêm Phố có tục hễ đánh được cá súng thì thường đốt pháo mừng. Cá gúng trung bình mỗi con nặng khoảng 6-7 cân, năm nào cá gúng xuất hiện thì năm đó được mùa, có những mẻ đánh được vài chục tấn thuyền chở không hết phải gọi thêm thuyền trong bờ ra hỗ trợ. Đối với ngư dân đây là niềm vui đáng để họ đốt pháo ăn mừng, đồng thời cũng là báo tin vui cho đất liền biết.

Ngày nay do việc nhà nước cắm đốt pháo nên tục đốt pháo không còn nữa, tuy nhiên họ vẫn tổ chức ăn mừng. Mừng được mùa cá cũng đồng nghĩa với việc ngư dân sẽ phải mệt hơn, vat vả hơn và mat ngủ nhiều hơn bởi phải thức suốt đêm dé chế biến cá cho kịp nếu không cá sẽ dễ bị hỏng. Ai đã từng đến nơi đây vào mùa cá, chắc han sẽ không thể quên được cảnh sinh hoạt của người dân về đêm thật nhộn nhịp khác hắn các vùng quê nông thôn khác. Khóa luận tốt nghiệp Trong các loại cá thì cá dua là loại cá được khai thác bằng câu, trung bình nặng khoảng 3-4 kg thậm chí có con nặng tới 7-8 kg.

Đây là loại cá ngon có tiếng ở Diêm Phố. Cá dưa dùng để giã gid, giò cá đưa là món ăn cổ truyền của Ngư Lộc trong các địp lễ tết đình đám, cưới xin. Cá tạp: Thời vụ khai thác vào tháng 2, khi thời tiết sương mù xuất hiện, biển .và hơi gió hồm là thời điểm thuận lợi để đánh các loại cá tạp như cá lep,trich, lầm. chế biến chủ yếu là làm cá khô và mắm.

Trong thời gian này cũng là mùa cá mực và cá khoai. Những năm gần đây cá mực trở thành đặc sản ưu tiên cho xuất khẩu. Bên cạnh mùa cá, Diêm Phố còn có mùa tôm. Tôm ở đây có nhiều loại như : he, hùm, sắt, bột.vừa có giá trị phục vụ bữa ăn trong đời sống hằng ngày, vừa có giá trị xuất khâu.

Thời vụ đánh bắt từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch 2. Vụ cá Nam Vụ cá Nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 (âm lịch), ở vụ cá này, biển Diêm Phố có trữ lượng rất lớn, chủ yếu là các giống cá : mòi, thè, đù, mác, chim, ngừ, nục. Trong các loại cá này thì cá moi chiếm vị trí cao nhất, ngoài ra cá chim cũng nổi tiếng là loại cá ngon. Trong thời gian này, cá có nhiều nên người dân không cần phải đi đánh bắt xa bờ, mà chỉ cần đánh trong lộng cũng đủ nặng thuyền.

Cùng đó moi cũng là một nguồn thu hoạch lớn của xã. Moi được xem là một đặc sản của làng Diêm Phố, có thể ăn kèm bánh đa và khế, hoặc chế biến moi thành các loại mắm. Sản lượng moi thu hoạch được ở Diêm Phố chiếm 1⁄2 tổng sản lượng thu hoạch trong nghề đi biển của vùng. Vụ cá Nam ở Diêm Phố còn là mùa ốc biển, ngao, cua, ghe, sò lông, sò huyết, phi, hầu, sứa.

đây cũng được xem là những đặc sản quý của vùng. Có thể nói, biển ở đây thực sự là một nguồn tài nguyên phong phú, tiềm tàng những khả năng dé phát triển một nền kinh tế phén thịnh. Hoạt động mưu sinh Trước khi chuyển han sang nghề biển, Diêm Phố là làng hỗn canh, nhưng sau này đo sự biến động của tự nhiên, đất của làng dan dan bị biển xâm thực và nhiễm mặn đã không cho phép người dân nơi đây tiếp tục nghề trồng trọt và làm nghề Khóa luận tốt nghiệp muối như ở các xã ven biển lân cận. Trong khi điều kiện tự nhiên ở đây lại rất ưu đãi đối với nghề đánh bắt và khai thác hải sản, bởi có một ngư trường rộng lớn phong phú về các giống loài hải sản.

Tại đây có hòn Đảo Nẹ là một lá chắn che chở cho thuyền bè neo đậu yên ổn. Vì thế, cư đân Diêm Phố đã xác lập đời sống kinh tế của cộng đồng là sống với biển và làm nghề đánh bắt cá trên biển. Đến năm 1925, Diêm Phố trở thành một làng đánh cá lớn với 600 hộ dân, khoảng 3000 người, 125 thuyền và 800 mang. Từ đó nghề biển nhanh chóng trở thành nghề chính - nguồn sống chính của con người nơi đây.

Nghề khai thác hải sản Cư đân ven biển thường đánh bắt hải sản ở ba ngư trường chính là : cửa sông, ven bờ (lộng) và ngoài biển (khơi). Đối với Diêm Phố, do sự thay đổi của điều kiện tự nhiên mà ngày nay Diêm Phố không còn ở gần các cửa sông như trước kia nữa. Cho nên Diêm Phố không có ngư trường cửa sông, ngư dân ở đây chỉ có hai ngư trường chính là "lộng" và "khơi". Đánh bắt ở vùng lộng 0 Đây là cách đánh bắt của ngư dân bãi ngang Diém Phố.

Tam lộng ở khoảng phía trong núi Nẹ cách bờ biển khoảng 4-5 km. Phương thức đánh bắt truyền thống là: Văng tay, sẻo, gõ gai, lưới rênh. Nghé văng tay Trong số các nghề đánh bắt cá biển ở Diêm Phó, thì nghề văng tay xuất hiện sớm nhất. - Ngay từ khi con người mới tới đây lập làng sinh sống, khi ấy vùng biển này còn sâu và không lầy, cá quần tụ ở đây rất đông và sát gần bờ để kiếm ăn từ các cửa sông.

Chiếc văng tay được xem là công cụ hớt cá thông dụng nhất bấy giờ. ị Cấu tạo của chiếc văng tay bao gồm một tắm lưới và bốn thanh tre. Lưới có chiều | rong khoang 1m, chiều dài khoảng 4,5m được dan từ sợi của cây gai tước nhỏ, se | lại thành sợi. Thanh tre dùng để buộc lưới phải được chọn từ loại tre già, được a vot nhẫn, hai đầu thanh tre phải to và cứng hơn phần ở giữa.

Ở giữa tắm lưới buộc 4 thanh tre vào các mép lưới, thành hình vuông vừa làm cho lưới căng để chắn, hớt cá đồng thời vừa làm động dé chứa cá. Sau này lưới được phát triển lên 15-20m và phạm vi khai thác có xa bờ hơn (3-4m). Sử dụng văng tay có 2 người. Gacsn Sse lo cà ch nhờn Che co (ee Seba oe e e a ee - ee te a Khóa luận tốt nghiệp Mỗi người cầm một đầu văng thả xuống vị trí được xác định trước trên biển và từ - —— hai phía đầu day, hai người kéo đồn vào bờ để bắt.

Mỗi ngày có thể kéo tới gần 20 mẻ. Thu hoạch trong ngày từ 100-150kg cá tươi. Cá đánh văng tay chủ yếu là | cá quần nhỏ và cá tạp, ít khi được cá to. Nghề văng tay thường dựa vào vị trí mép | nước đọc bờ biển làm điểm tựa và chủ yếu khai thác vào ban đêm.

Nhưng ngày nay do địa hình thay đổi, bờ biển bị sat lở nhiều ngày càng trở nên nông và lầy bùn, có chỗ lún sâu hơn Im. Sự thay đổi đó làm cho nghề văng tay không còn phù hợp với điều kiện mới nữa. Bởi vậy nghề này không có điều kiện dé phát triển. Nghề séo Nghề sẻo trước đây còn có tên là nghé te lội, được phát triển từ chiếc văng tay.

So với văng tay nghề sẻo có ưu thé hơn han. Nó có thé khai thác ở độ sâu hơn và cho năng suất cao hơn. Lưới sẻo được làm từ sợi cây gai được se thành „ sợi chỉ. Mắt lưới rộng khoảng 1-2cm.

Lưới đan theo hình tam giác cân. Day tam giác là miệng lưới, đỉnh là túi lưới dùng để làm chỗ đựng cá. Hai bên lưới được cột vào hai gọng te bằng hai cây tre dài. Người ta đây te sát mặt đất để bắt các loại tôm tép, moi nhỏ ở xa bờ khoảng 100m.

Ở những nơi nước ngập đầu người - thì phải ding cà kheo cao từ 1m tới 2-3m. Nghề sẻo có mùa vụ khai thác từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch. Và chủ yếu đánh vào ban đêm. Với nghề sẻo, người dân vùng biển Hậu Lộc đã đúc kết thành câu ca dao: “Cá lăng, cá đối, cá kìm, Dé cho văng séo đi tìm cả đêm”.

Nghề sẻo được rất nhiều nơi áp dung và tồn tại khá lâu dai. Tuy nhiên do những điều kiện như đã nêu trên, đồng thời kết hợp với nguồn cá trong bờ ngày một cạn kiệt, tròng khi nhu cầu đánh bắt ngày càng lớn buộc người dân phải cải tiến ngư cụ và phương tiện đánh bắt vươn ra ngoài khơi xa để chiếm lĩnh nguồn tài nguyên vô tận này. Nghề gõ gai Nghề gõ gai xuất hiện ở Diêm Phố cách đây hơn 300 năm (vào năm 1670) do một ngư dân đánh cá giỏi tên là Nguyễn Lãm Lực ở Diêm Phố chế tạo ra dựa trên 4] Giảng viên: Nguyễn Thị Bích Nga 18 Sinh vién: Lé Thi Ha Trang Khóa luận tot nghiệp các công cụ đánh bắt vốn có như văng, sẻo. Lưới gõ có hình dáng giống như hình chữ nhật.

Phương tiện dùng cho nghề gõ gai là bè luồng. Bè luồng gõ gai gắn bó mật thiết và lâu đời nhất đối với ngư dan Diêm Phố xưa. Có tới nửa làng phía bắc Diêm Phố sử dụng bè nên tục xưa gọi là xóm Bè. Việc đánh bắt hải sản trở nên thuận lợi hơn từ khi có nghề gõ gai ra đời.

Sản lượng tăng lên, đời sống ngư dân có phan du dat và sung túc. Tiêu biểu về nghề gõ bè có cha con ông Nguyễn Lãm Lực, đánh bắt giỏi, được nhân dân trong vùng khen ngợi: “ Bạc ông Thủ Viên | Tiền ông Tổng Bá Cá ông Lãm Lực”. Nghề lưới rênh Nghề lưới rênh do hai cụ Tô Văn Hợp và Nguyễn Văn Thang phát triển từ gõ gai đưa vào sản xuất ở xóm Bè, sau đó lan rộng ra thành nghề chính ở Diêm Phố. Lưới rênh chủ yếu dùng để khai thác cá nổi vùng lộng và vùng giữa lộng và khơi.

Cấu tạo lưới rênh quan trọng là mặt trên đường phao và mặt đáy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Làng Diêm Phố Tại Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa" mang đến cho độc giả cái nhìn sâu sắc về một trong những làng nghề truyền thống nổi bật của Việt Nam. Tại đây, người dân không chỉ sản xuất diêm mà còn gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương. Bài viết nhấn mạnh sự phát triển bền vững của làng nghề, những thách thức mà người dân phải đối mặt, cũng như tiềm năng du lịch mà nơi này có thể mang lại. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách mà làng nghề này góp phần vào nền kinh tế địa phương và bảo tồn văn hóa dân tộc.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các ứng dụng phong thủy trong xây dựng nhà ở tại các vùng nông thôn, hãy tham khảo bài viết Luận văn tốt nghiệp đánh giá việc ứng dụng phong thủy trong xây dựng nhà ở bố trí cảnh quan nông thôn tại xã đại sơn huyện phục hòa tỉnh cao bằng. Ngoài ra, để mở rộng kiến thức về các làng nghề truyền thống khác, bạn có thể đọc bài Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử về làng nghề truyền thống luyện sắt phú bài và rèn hiền lương tỉnh thừa thiên huế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị văn hóa và kinh tế của các làng nghề truyền thống tại Việt Nam.