mở đầu cho một năm làm ăn phát đạt và gặp nhiều may mắn vu mùa bội thu. Bởi vậy ở Diêm Phố đây là một ngày vui hiếm có trong năm. “Khi vào lộng lúc ra khơi Tháng 2 mùa vụ vậy thời ra quân. ” Cá biển ở Diêm Phố có mật độ khá dày đặc, trong đó giống cá thu, cá moi, nụ, lầm, giang.
xuất hiện nhiều. Chúng có đặc điểm đó là thịt cá béo và thơm là đặc sản của biển Diêm Phố. Tháng 3 khi gió nồm non xuất hiện, là thời cơ để đánh cá gúng. Năm nào cá gúng về cũng nhiều, kéo thành từng tía trải rộng 50-60m? trên mặt nước.
Vì thế đánh cá gúng không thể đánh độc lập cá nhân được, mà thường phải phối hợp cùng lúc nhiều lưới vây bọc. Trước đây ở Diêm Phố có tục hễ đánh được cá súng thì thường đốt pháo mừng. Cá gúng trung bình mỗi con nặng khoảng 6-7 cân, năm nào cá gúng xuất hiện thì năm đó được mùa, có những mẻ đánh được vài chục tấn thuyền chở không hết phải gọi thêm thuyền trong bờ ra hỗ trợ. Đối với ngư dân đây là niềm vui đáng để họ đốt pháo ăn mừng, đồng thời cũng là báo tin vui cho đất liền biết.
Ngày nay do việc nhà nước cắm đốt pháo nên tục đốt pháo không còn nữa, tuy nhiên họ vẫn tổ chức ăn mừng. Mừng được mùa cá cũng đồng nghĩa với việc ngư dân sẽ phải mệt hơn, vat vả hơn và mat ngủ nhiều hơn bởi phải thức suốt đêm dé chế biến cá cho kịp nếu không cá sẽ dễ bị hỏng. Ai đã từng đến nơi đây vào mùa cá, chắc han sẽ không thể quên được cảnh sinh hoạt của người dân về đêm thật nhộn nhịp khác hắn các vùng quê nông thôn khác. Khóa luận tốt nghiệp Trong các loại cá thì cá dua là loại cá được khai thác bằng câu, trung bình nặng khoảng 3-4 kg thậm chí có con nặng tới 7-8 kg.
Đây là loại cá ngon có tiếng ở Diêm Phố. Cá dưa dùng để giã gid, giò cá đưa là món ăn cổ truyền của Ngư Lộc trong các địp lễ tết đình đám, cưới xin. Cá tạp: Thời vụ khai thác vào tháng 2, khi thời tiết sương mù xuất hiện, biển .và hơi gió hồm là thời điểm thuận lợi để đánh các loại cá tạp như cá lep,trich, lầm. chế biến chủ yếu là làm cá khô và mắm.
Trong thời gian này cũng là mùa cá mực và cá khoai. Những năm gần đây cá mực trở thành đặc sản ưu tiên cho xuất khẩu. Bên cạnh mùa cá, Diêm Phố còn có mùa tôm. Tôm ở đây có nhiều loại như : he, hùm, sắt, bột.vừa có giá trị phục vụ bữa ăn trong đời sống hằng ngày, vừa có giá trị xuất khâu.
Thời vụ đánh bắt từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch 2. Vụ cá Nam Vụ cá Nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 (âm lịch), ở vụ cá này, biển Diêm Phố có trữ lượng rất lớn, chủ yếu là các giống cá : mòi, thè, đù, mác, chim, ngừ, nục. Trong các loại cá này thì cá moi chiếm vị trí cao nhất, ngoài ra cá chim cũng nổi tiếng là loại cá ngon. Trong thời gian này, cá có nhiều nên người dân không cần phải đi đánh bắt xa bờ, mà chỉ cần đánh trong lộng cũng đủ nặng thuyền.
Cùng đó moi cũng là một nguồn thu hoạch lớn của xã. Moi được xem là một đặc sản của làng Diêm Phố, có thể ăn kèm bánh đa và khế, hoặc chế biến moi thành các loại mắm. Sản lượng moi thu hoạch được ở Diêm Phố chiếm 1⁄2 tổng sản lượng thu hoạch trong nghề đi biển của vùng. Vụ cá Nam ở Diêm Phố còn là mùa ốc biển, ngao, cua, ghe, sò lông, sò huyết, phi, hầu, sứa.
đây cũng được xem là những đặc sản quý của vùng. Có thể nói, biển ở đây thực sự là một nguồn tài nguyên phong phú, tiềm tàng những khả năng dé phát triển một nền kinh tế phén thịnh. Hoạt động mưu sinh Trước khi chuyển han sang nghề biển, Diêm Phố là làng hỗn canh, nhưng sau này đo sự biến động của tự nhiên, đất của làng dan dan bị biển xâm thực và nhiễm mặn đã không cho phép người dân nơi đây tiếp tục nghề trồng trọt và làm nghề Khóa luận tốt nghiệp muối như ở các xã ven biển lân cận. Trong khi điều kiện tự nhiên ở đây lại rất ưu đãi đối với nghề đánh bắt và khai thác hải sản, bởi có một ngư trường rộng lớn phong phú về các giống loài hải sản.
Tại đây có hòn Đảo Nẹ là một lá chắn che chở cho thuyền bè neo đậu yên ổn. Vì thế, cư đân Diêm Phố đã xác lập đời sống kinh tế của cộng đồng là sống với biển và làm nghề đánh bắt cá trên biển. Đến năm 1925, Diêm Phố trở thành một làng đánh cá lớn với 600 hộ dân, khoảng 3000 người, 125 thuyền và 800 mang. Từ đó nghề biển nhanh chóng trở thành nghề chính - nguồn sống chính của con người nơi đây.
Nghề khai thác hải sản Cư đân ven biển thường đánh bắt hải sản ở ba ngư trường chính là : cửa sông, ven bờ (lộng) và ngoài biển (khơi). Đối với Diêm Phố, do sự thay đổi của điều kiện tự nhiên mà ngày nay Diêm Phố không còn ở gần các cửa sông như trước kia nữa. Cho nên Diêm Phố không có ngư trường cửa sông, ngư dân ở đây chỉ có hai ngư trường chính là "lộng" và "khơi". Đánh bắt ở vùng lộng 0 Đây là cách đánh bắt của ngư dân bãi ngang Diém Phố.
Tam lộng ở khoảng phía trong núi Nẹ cách bờ biển khoảng 4-5 km. Phương thức đánh bắt truyền thống là: Văng tay, sẻo, gõ gai, lưới rênh. Nghé văng tay Trong số các nghề đánh bắt cá biển ở Diêm Phó, thì nghề văng tay xuất hiện sớm nhất. - Ngay từ khi con người mới tới đây lập làng sinh sống, khi ấy vùng biển này còn sâu và không lầy, cá quần tụ ở đây rất đông và sát gần bờ để kiếm ăn từ các cửa sông.
Chiếc văng tay được xem là công cụ hớt cá thông dụng nhất bấy giờ. ị Cấu tạo của chiếc văng tay bao gồm một tắm lưới và bốn thanh tre. Lưới có chiều | rong khoang 1m, chiều dài khoảng 4,5m được dan từ sợi của cây gai tước nhỏ, se | lại thành sợi. Thanh tre dùng để buộc lưới phải được chọn từ loại tre già, được a vot nhẫn, hai đầu thanh tre phải to và cứng hơn phần ở giữa.
Ở giữa tắm lưới buộc 4 thanh tre vào các mép lưới, thành hình vuông vừa làm cho lưới căng để chắn, hớt cá đồng thời vừa làm động dé chứa cá. Sau này lưới được phát triển lên 15-20m và phạm vi khai thác có xa bờ hơn (3-4m). Sử dụng văng tay có 2 người. Gacsn Sse lo cà ch nhờn Che co (ee Seba oe e e a ee - ee te a Khóa luận tốt nghiệp Mỗi người cầm một đầu văng thả xuống vị trí được xác định trước trên biển và từ - —— hai phía đầu day, hai người kéo đồn vào bờ để bắt.
Mỗi ngày có thể kéo tới gần 20 mẻ. Thu hoạch trong ngày từ 100-150kg cá tươi. Cá đánh văng tay chủ yếu là | cá quần nhỏ và cá tạp, ít khi được cá to. Nghề văng tay thường dựa vào vị trí mép | nước đọc bờ biển làm điểm tựa và chủ yếu khai thác vào ban đêm.
Nhưng ngày nay do địa hình thay đổi, bờ biển bị sat lở nhiều ngày càng trở nên nông và lầy bùn, có chỗ lún sâu hơn Im. Sự thay đổi đó làm cho nghề văng tay không còn phù hợp với điều kiện mới nữa. Bởi vậy nghề này không có điều kiện dé phát triển. Nghề séo Nghề sẻo trước đây còn có tên là nghé te lội, được phát triển từ chiếc văng tay.
So với văng tay nghề sẻo có ưu thé hơn han. Nó có thé khai thác ở độ sâu hơn và cho năng suất cao hơn. Lưới sẻo được làm từ sợi cây gai được se thành „ sợi chỉ. Mắt lưới rộng khoảng 1-2cm.
Lưới đan theo hình tam giác cân. Day tam giác là miệng lưới, đỉnh là túi lưới dùng để làm chỗ đựng cá. Hai bên lưới được cột vào hai gọng te bằng hai cây tre dài. Người ta đây te sát mặt đất để bắt các loại tôm tép, moi nhỏ ở xa bờ khoảng 100m.
Ở những nơi nước ngập đầu người - thì phải ding cà kheo cao từ 1m tới 2-3m. Nghề sẻo có mùa vụ khai thác từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch. Và chủ yếu đánh vào ban đêm. Với nghề sẻo, người dân vùng biển Hậu Lộc đã đúc kết thành câu ca dao: “Cá lăng, cá đối, cá kìm, Dé cho văng séo đi tìm cả đêm”.
Nghề sẻo được rất nhiều nơi áp dung và tồn tại khá lâu dai. Tuy nhiên do những điều kiện như đã nêu trên, đồng thời kết hợp với nguồn cá trong bờ ngày một cạn kiệt, tròng khi nhu cầu đánh bắt ngày càng lớn buộc người dân phải cải tiến ngư cụ và phương tiện đánh bắt vươn ra ngoài khơi xa để chiếm lĩnh nguồn tài nguyên vô tận này. Nghề gõ gai Nghề gõ gai xuất hiện ở Diêm Phố cách đây hơn 300 năm (vào năm 1670) do một ngư dân đánh cá giỏi tên là Nguyễn Lãm Lực ở Diêm Phố chế tạo ra dựa trên 4] Giảng viên: Nguyễn Thị Bích Nga 18 Sinh vién: Lé Thi Ha Trang Khóa luận tot nghiệp các công cụ đánh bắt vốn có như văng, sẻo. Lưới gõ có hình dáng giống như hình chữ nhật.
Phương tiện dùng cho nghề gõ gai là bè luồng. Bè luồng gõ gai gắn bó mật thiết và lâu đời nhất đối với ngư dan Diêm Phố xưa. Có tới nửa làng phía bắc Diêm Phố sử dụng bè nên tục xưa gọi là xóm Bè. Việc đánh bắt hải sản trở nên thuận lợi hơn từ khi có nghề gõ gai ra đời.
Sản lượng tăng lên, đời sống ngư dân có phan du dat và sung túc. Tiêu biểu về nghề gõ bè có cha con ông Nguyễn Lãm Lực, đánh bắt giỏi, được nhân dân trong vùng khen ngợi: “ Bạc ông Thủ Viên | Tiền ông Tổng Bá Cá ông Lãm Lực”. Nghề lưới rênh Nghề lưới rênh do hai cụ Tô Văn Hợp và Nguyễn Văn Thang phát triển từ gõ gai đưa vào sản xuất ở xóm Bè, sau đó lan rộng ra thành nghề chính ở Diêm Phố. Lưới rênh chủ yếu dùng để khai thác cá nổi vùng lộng và vùng giữa lộng và khơi.
Cấu tạo lưới rênh quan trọng là mặt trên đường phao và mặt đáy.