Chương 1 VẤN ĐỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH VÙNG NGÃ BA BẠCH HẠC 1.1 Cơ sở nhận thức về địa danh Bất kỳ một đối tượng nào trong thế giới thực tại khi được con người gọi tên, đặt tên đồng nghĩa với việc nó đã được con người nhận thức, nhận diện. Cách đặt tên, gọi tên này tùy thuộc vào từng mục đích, dựa trên những quy ước nhất định trong từng hoàn cảnh và không gian sinh tồn cụ thể của cộng đồng dân cư; nó còn phụ thuộc vào cách thức hoạt động của ngôn ngữ mà cộng đồng cư dân đó sử dụng. Nhu cầu đặt tên, gọi tên là một nhu cầu thường trực, tất yếu và quan trọng của cộng đồng con người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tên đất, tên núi, tên rừng, tên biển, tên sông, tên đường phố, thậm chí tên gọi các hành tinh bên ngoài Trái Đất đều là những địa danh.
Thuật ngữ địa danh nguyên thủy, trong tiếng Hy Lạp có cấu tạo gồm hai bộ phận: topos (địa điểm) và anyma (tên gọi chung nhất với ý nghĩa là “ tên gọi địa lý”). Nói khác đi, tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu và ghi nhận bởi các địa danh. Địa danh chính là tên gọi được áp dụng cho một đối tượng, không gian địa lý hoặc một đặc trưng địa hình, địa vật nào đó, có tác dụng khu biệt nó với những cái xung quanh và xác định địa điểm tồn tại của nó trong môi trường. Ở Việt Nam, theo triết tự Hán - Việt, thuật ngữ địa danh có nghĩa là “tên đất”.
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều cách hiểu về địa danh. Tác giả Đào Duy Anh cho rằng: “ Địa danh là tên gọi các miền đất” [2; 220]. Còn trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên lại giải thích địa danh là “ tên đất, tên địa phương” [38; 34]. Nguyễn Văn Âu cho rằng: “ Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên địa phương, làng mạc” [3; 18].
Với cách tiếp cận địa danh theo góc nhìn ngôn ngữ học, Nguyễn Kiên Trường quan niệm: “ Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt Trái đất” [54; 16]. Còn Lê Trung Hoa đưa ra cách hiểu: “ Địa danh là những từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ ( không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [19; 21]. Còn tác giả Từ Thu Mai lại đồng ý với cách hiểu của Superanskaja: “ Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt Trái đất” [28; 21]. Nhìn chung, với những quan niệm khác nhau đó có một số sự khác biệt nhất định trong các quan niệm trên chủ yếu xuất phát từ phương diện, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góc nhìn không giống nhau.
Nhưng qua đó cũng có thể hiểu một cách chung nhất về địa danh như sau: Địa danh là những từ, cụm từ dùng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lý, các địa hình, địa vật; có tác dụng khu biệt, định vị những đối tượng, không gian địa lý, các địa hình, địa vật này với các đối tượng, không gian địa lý, các địa hình, địa vật khác. Không có các địa danh tức là chúng ta đã mất đi những khung định vị, những quy chiếu không gian quan trọng trong môi trường sinh tồn của chúng ta. Các nhà nghiên cứu địa danh học đều nhất trí cho rằng dịa danh chính là những vật chứng đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về dân tộc, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ. Dĩ nhiên, không phải biến cố lịch sử, dân tộc, văn hóa nào cũng được địa danh ghi lại, cũng được phản ánh trong địa danh.
Nhưng địa danh chính là những “di chỉ khảo cổ học” không nằm trong lòng đất, hiện hữu với tư cách là những bằng chứng, hiện tượng đồng đại nhưng lại mang chứa nhiều thành tố thuộc về lịch đại. Đó chính là cơ sở, là xuất phát điểm để chúng tôi thông qua mô tả nội dung địa danh trong mối liên hệ với nhận thức của cộng đồng để nhận diện nội dung văn hóa lịch sử của địa danh.2 Khái quát về địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc 1.1 Khái niệm “vùng văn hóa” Xét về mặt từ nguyên “vùng” - region, được hiểu là một khu vực địa lý, như vùng đất, vùng trời, vùng biển, không gắn với một cấp hành chính nhà nước. Trong khi đó, thuật ngữ “lãnh thổ” - territoire, được hiểu là một vùng hay khu vực địa lý thuộc một cấp quản lý hành chính nhà nước. Do đó trong một vùng có thể có nhiều lãnh thổ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ “khu vực” được hiểu, được sử dụng với những biến thái khác nhau. Nó có thể nhỏ hơn vùng như khu Tả ngạn, Hữu ngạn sông Hồng, khu vực Hồ Gươm, Hồ Tây ở Hà Nội.; hoặc nó tương đương vùng, ví dụ khu vực (hay vùng) Tây Bắc; cũng có thể lớn hơn vùng và tương đương miền, ví dụ khu vực (hay miền) Bắc, Trung, Nam. Trong tiếng Viêt, thuật ngữ “miền” thì rõ ràng nghiêng về cách hiểu là lớn hơn “vùng”. Cũng cần nói thêm rằng, thuật ngữ “vùng” không chỉ liên quan đến vùng kinh tế, mà cơ bản dùng để chỉ một vùng văn hóa.
Ở phương Tây, từ cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện lý thuyết văn hóa vùng (Culture area). Mason, lần đầu tiên trình bày lý thuyết văn hóa vùng trong tạp chí American Anthropologist (Nhân loại học Mỹ), để làm cơ sở phân loại các bộ lạc thổ dân da đỏ. Tiếp đó, vào những năm 1950, giới dân tộc học ở Liên Xô cũ, trước tiên là các giáo sư N. Lêvin, đã xây dựng lý thuyết về loại hình kinh tế - văn hóa và khu vực lịch sử - dân tộc học, hay có thể gọi chung là lý thuyết lịch sử - văn hóa.
Các lý thuyết trên mặc dù khác nhau nhưng về cơ bản đều dựa vào trình độ sản xuất các phương tiện sinh sống để phân chia các loại hình kinh tế - văn hóa; ngoài ra còn chú ý đến các yếu tố cảnh quan - lãnh thổ, quá trình cộng cư lâu dài, cùng chung vận mệnh lịch sử trong quá trình hình thành, tồn tại, phát triển của các vùng văn hóa. Giới dân tộc học, văn hóa học nước ta nhìn chung chịu ảnh hưởng nhiều của lý thuyết lịch sử - văn hóa của các nhà khoa học Xô Viết. Có thể quan niệm “vùng văn hóa” là một thực thể văn hóa, bao gồm những đặc điểm về cảnh quan - lãnh thổ, trình độ và cách thức hoạt động kinh tế, và các đặc điểm về văn hóa vật thể (nhà cửa, y phục, ăn uống.), văn hóa phi vật thể (phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng - tôn giáo.); trong đó có một số đặc trưng điển hình so với các vùng khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn hoá thống nhất trong đa dạng.
Đặc trưng này thể hiện ngay trong một nền văn hoá. Chính vì vậy, phân vùng là một trong những yêu cầu có tính phương pháp luận trong nghiên cứu văn hoá. Hiện có khá nhiều quan niệm về vùng văn hoá, trong đó quan niệm của Trần Quốc Vượng đảm bảo được tính ngắn gọn của một định nghĩa, thể hiện rõ quan điểm tiếp cận, đồng thời nêu bật được đặc trưng cơ bản của một vùng văn hoá: “Một vùng văn hóa là một tổng thể - hệ thống một không gian văn hóa (cutural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure- system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (sub- system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)” [58, 401]. Bên cạnh khái niệm vùng văn hóa của Trần Quốc Vượng, người viết còn muốn đề cập đến khái niệm vùng thể loại văn hóa của Ngô Đức Thịnh như một định hướng để tìm hiếu vùng ngã ba Bạch Hạc.
Theo Ngô Đức Thịnh, vùng thể loại văn hóa là một không gian địa lý nhất định, mà ở đó từng thể loại văn hóa (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu, âm nhạc, ẩm thực, kiến trúc….) biểu hiện tính tương đồng, thống nhất thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền. [46; 76] Như vậy, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận và sử dụng khái niệm “vùng văn hóa” của Trần Quốc Vượng và “vùng thể loại văn hóa” của Ngô Đức Thịnh để nhận diện vùng văn hóa ngã ba Bạch Hạc sau khi mô tả nội dung của một số địa danh thuộc “không gian địa danh Bạch Hạc” 1.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi “sông Bạch Hạc”, khi mà đời xưa, giao thông đường bộ chưa phát triển, thực tế đã trở thành phên dậu phía Tây của kinh thành Thăng Long, mà điểm khởi đầu là điểm hợp lưu chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức của ba dòng sông : Đà, Thao và Lô, khi ấy gọi là sông Tuyên. Ngã ba Hạc hợp lưu bởi sông Thao, sông Đà, sông Lô, tạo nên dòng trong dòng đục, nước sông mênh mông, xa xa tả có Tam Đảo, hữu có Ba Vì, hai bên bờ là làng mạc ruộng vườn tươi tốt, bến sông thuyền bè tấp nập vào ra… Tất cả những phong cảnh đó tạo cho ngã ba Bạch Hạc từ lâu nổi danh là vùng sông nước hữu tình, sơn thanh thủy tú, bồi đắp sinh khí cho vùng đất cổ Phong Châu, nơi vua Hùng chọn làm kinh đô đầu tiên của nhà nước Văn Lang. Nơi này hội tụ cả ba dòng sông hùng vĩ của đất Bắc, nên người xưa tin rằng ngã ba sông Bạch Hạc chính là nơi hợp “đại long mạch” của đất tổ Hùng Vương.
Ngã ba Bạch Hạc chính là điểm hợp lưu của ba dòng sông. Vậy, vùng ngã ba Bạch Hạc được xác định như thế nào? Theo định nghĩa của Giaó sư Trần Quốc Vượng, vùng văn hóa trước hết là một không gian văn hóa với một cấu trúc hệ thống bao gồm các tiểu hệ theo lối tiếp cận hệ thống. Như vậy, khi tiếp cận một vùng văn hóa phải tiếp cận theo cấu trúc hệ thống.1 Tiểu vùng văn hóa đất Tổ Căn cứ trên các sắc thái văn hóa địa phương, Ngô Đức Thịnh đã phân chia vùng đồng bằng Bắc Bộ thành các tiểu vùng văn hóa và các đa dạng văn hóa mang tính chuyển tiếp. Tiểu vùng văn hóa đất Tổ nằm trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.
Tiểu vùng văn hóa này nằm gọn trong địa giới tỉnh Phú Thọ và một phần của Sơn Tây cũ, gần trùng với xứ Đoài như quan niệm dân gian.