mở đầu | 21 đến nỗi nó chảy ra ngoài. Thường thường, Chokgyur Lingpa mang một tấm vải thêu để đặt báu vật lên. Nhiều cái để lại dấu cháy xém vì các terma rất nóng. Không có ai ngoài ngài có thể cầm nó.” Về sau tôi thấy có một vài mảnh thêu cháy xém này, màu đỏ và vàng, trong phòng chứa đồ linh thiêng của Chokgyur Lingpa.
Bà tôi nói tiếp: “Rồi Chokgyur Lingpa đặt terma – đôi khi là một bức tượng – để nguội dần trên một tấm vải thêu trên một bàn thờ lộ thiên. Ngài giải thích cho những người hiện diện terma được cất giấu như thế nào, nó được phát giác bây giờ bằng cách nào, các lợi lạc khi nhận được sự ban phước của nó… Đám đông khoảng hơn một ngàn người chảy nước mắt vì tin tưởng và sùng mộ, không khí rì rào với tiếng than. Ngay nếu con là một người trí thức ngang bướng, mọi thứ nghi ngờ cũng phải tiêu tan. Mọi người đều sững sờ thán phục.” Phải với cách như thế, bởi vì người Tây Tạng, đặc biệt là những người ở tỉnh Kham miền đông Tây Tạng, họ cực kỳ nghi ngờ.
Họ không tự nhiên tin một Terton. Nhưng Chokgyur Lingpa thì vượt lên mọi sự nghi ngờ và bàn tán, bởi vì ngài khám phá các terma lập đi lập lại với sự chứng kiến của vô số người hiện diện. Lời dạy Terma, lời trực tiếp của Padmasambhava, khi được khám phá vào thời điểm định mệnh, thì có một chiều sâu khó mà các luận văn khác sánh được. Chúng có các ban phước độc nhất – nhưng những sự ban phước tùy vào niềm tin và sùng mộ của bạn.
Karsey Kongtrül, con của Karmapa thứ mười lăm, có lần nói với tôi “Ba lần tôi cử 22| Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh hành lễ drubchen về terma Tukdrub Barchey Kunsel, của Chokgyur Lingpa, và mỗi lần những dấu hiệu thành tựu lạ lùng lại xuất hiện.” Tôi hỏi: “Xin nói cho tôi chúng là những gì.” “Một lần một lượng cam lồ rất nhiều chảy ra, rất ngọt ngào và hơi chua như rượu chang tuyệt hảo, từ torma trên bàn thờ và chảy tràn mọi hướng cho đến cổng chùa. Lần khác, amrita và rakta trên bàn thờ bắt đầu sôi lên, tiếng sùng sục như nước sôi. Lần thứ ba chúng tôi cũng sửa soạn phương dược thiêng liêng và mùi thơm ngọt ngào của nó có thể ngửi thấy luôn bảy ngày sau. Trong đời, tôi chưa bao giờ chứng kiến các dấu hiệu lạ lùng như trong ba lần đó.” Điều này cũng có thể do sự phối hợp của một giáo lý terma sâu xa và một đại sư cao tột như thế.
Có nhiều câu chuyện khác về cam lồ chảy ra từ torma trên bàn thờ trong các lễ drubchen ở tu viện Tsiley của Chokgyur Lingpa. Đại sư Jamyang Khyentse Wangpo cũng phát giác một terma tương tự với Tukdrub Barchey Künsel. Sau khi gặp Chokgyur Lingpa và xem xét, so sánh cẩn thận hai bản dịch của terma này, Jamyang Khyentse đốt cháy bản văn của mình, nói: “Vì câu và nghĩa giống nhau, ích lợi gì có thêm một bản! Cái của Ngài, là một terma đất, thì sâu xa hơn và sẽ có hiệu lực hơn bản terma tâm của tôi.” Như thế các ban phước của hai dòng, terma đất và terma tâm được hòa trong một dòng chảy. Một terma đất thì bằng vật chất và lấy ra từ đất trong khi terma tâm được khám phá từ cảnh giới của chứng ngộ.
Người ta nói rằng những terma đất đem đến nhiều lợi lạc lớn hơn cho con người bởi vì Lời dạy mở đầu | 23 chúng thường có mảnh giấy da màu vàng với chữ tượng trưng được cất giấu bởi Padmasambhava. Chữ tượng trưng này được gọi là chữ dakini thì sâu xa không thể tưởng. Trích dẫn một bản kinh Tantra: “Chữ của kho tàng là thân của sự lưu xuất huyễn hóa. Chúng cũng là ngữ để hiểu âm thanh và ngôn ngữ.
Bằng sự thấu suốt ý nghĩa của chúng, chúng cũng là tâm.” Theo cách ấy, thân, ngữ và tâm giác ngộ đều gồm chứa trong chữ của dakini. Chữ viết này chính nó là hóa thân, thân thể của sự sáng tạo huyễn hóa. Đối với một vị thầy, ban cho một sự trao truyền bằng cách đọc dầu chỉ một bài tán ngắn thì chữ viết là luôn luôn cần thiết – không thể lập lại theo trí nhớ. Tương tự, có một sự khác biệt sâu xa giữa sự việc có hay không có mảnh giấy da màu vàng với chữ của dakini.
Các lời dạy của Padmasambhava thường kết thúc với mệnh lệnh của ngài với các đệ tử chớ truyền bá chúng ngay mà cất giấu chúng cho lợi lạc của các tín đồ tương lai. Lý do là để giữ gìn sự liên tục của các lời dạy cốt tủy. Không cất giấu sự chỉ dạy trực tiếp như các kho tàng terma, dòng của chúng sẽ chết qua nhiều thế kỷ. Lấy một ví dụ là nhà siddha vĩ đại Karma Pakski; trước tác của ngài khoảng gần một trăm bộ, nhưng hôm nay chúng ta chỉ có ba bộ còn lại.
Sự việc diễn ra như vậy. Các giáo huấn về thực hành pháp Chö của nữ đạo sư Machig Labdron, cắt đứt chấp ngã, khoảng 80 hay 90 bộ, nhưng ngày nay bạn tìm đâu ra toàn bộ lời dạy quý báu ấy? Trong dòng Nyingma, không có đạo sư vĩ đại nào được biết tiếng do học rộng hơn Rongzompa và Longchenpa. 24| Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh Ngay dù Rongzompa thường được xem là bác học hơn, nhưng Long- chenpa thì vượt trội trong các lời chỉ dạy về cái thấy. Mỗi vị đều có một toàn tập trước tác hơn 60 hay 70 bộ; nhưng ngày nay chúng không tìm thấy được ở bất kỳ đâu.
Các lời dạy biến mất! Sự chỉ dạy của terma, ngược lại, thì vô tận. Khi một terton đích thực có một linh kiến chữ viết tượng trưng, mỗi một chữ trở thành một toàn thể đô thị huyễn hóa. Hơn nữa, các chữ của lời dạy để được viết lại tồn tại giữa không trung cho đến khi chúng được chép đúng; nếu một câu còn sống chập chờn, đó là vì vị terton có một lỗi đánh vần sai. Như thế sự chính xác khi giải mã được bảo đảm.
Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý về sự quý giá của Padma- sambhava và Yeshe Tsogyal. Những lời dạy các ngài cất giấu trong hồ và núi không bị uổng phí. Ngay khi đúng thời, bản viết xuất hiện sống động và rõ ràng trong trường kinh nghiệm của vị terton. Trước khi có sự khám phá thực sự một terma, vị terton sẽ nhận một bản văn hướng dẫn, một bản văn ngắn giải thích chỗ của terma, bảng liệt kê các lời dạy, và thời điểm đúng cho cuộc khám phá.
Khi đến chỗ ấy, bà tôi nói: “Chokgyur Lingpa đã được hướng dẫn bởi một tia sáng từ trung tâm của terma, dẫn ngài thẳng đến chỗ cất giấu.” Padmasambhava có thể thấy thông suốt ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai cũng rõ ràng như một vật đặt trên bàn tay chúng ta, bởi thế chắc chắn ngài cũng thấy loại giáo lý nào thích hợp cho các thế hệ tương lai. Khi ngài quở trách đệ tử chính Yeshe Tsogyal hay người Tây Tạng Lời dạy mở đầu | 25 nói chung, bất kể bạn sanh ở xứ sở nào, bạn cũng được tự do nhận lãnh sự phê bình ấy để dẹp trừ những lầm lỗi ẩn tàng. Sự nghi ngờ ngăn che lợi lạc; chớ giống như một cái hang quay mặt về phương nam nơi mà mặt trời không bao giờ tới. Khi Padmasambhava chỉ thẳng cái gì tạo ra một lỗi lầm và cái gì ngăn bít con đường giác ngộ, các chân lý như thế thật là vững chắc, không chỉ cho người Tây Tạng, mà cho bất cứ ai thành thật muốn theo một thực hành tâm linh.
Vì chúng ta đang sống trong một thời đại khác với thế kỷ thứ tám, bạn có thể tự do đổi danh từ “dân Tây Tạng” thành “người của thế giới này.” Yeshe Tsogyal là người sưu tập chính các lời dạy của Padmasambhava, và không có bà chúng ta sẽ không có nhiều các lời chỉ dạy của ngài đến thế. Ananda đã là người sưu tập chính những lời của Phật Thích Ca về kinh, trong khi Vajrapani sưu tập lời dạy Mật thừa của Ngài; trong tinh túy chúng đồng nhất với nhau. Yeshe Tsogyal có cái được gọi là “trí nhớ không quên sót”; bà không bỏ quên một câu nào đã được nghe. Có phải là hoàn toàn vô ích khi nghe được điều gì mà lại quên mất? Người sưu tập những lời chỉ dạy của Padmasambhava này chính là một hóa thân của các Phật Mẫu Bát Nhã ba la mật, Vajra Varahi, và Thánh Tara.
Bà xuất hiện trong thế giới chúng ta cho mục tiêu đặc biệt này; nó là nhiệm vụ của bà. Ananda, Vajrapani và Yeshe Tsogyal đều được diễn tả là có trí nhớ siêu phàm, năng lực ghi nhớ không quên sót. Sự nhớ không quên sót này là giống với điều mà chúng ta gọi là không phóng tâm, bởi vì quên và phóng 26| Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh tâm là cùng một bản chất. Trong cuốn sách này chúng ta có những lời chỉ dạy bà đã nghe, không quên sót, hệ thống hóa, và cuối cùng cất giấu như là kho tàng terma cho chúng ta.
Yeshe Tsogyal là một phụ nữ: có thể một số người tin rằng chỉ có nam giới mới có thể đạt giác ngộ, nhưng cuộc đời của bà là bằng chứng ngược lại. Trong thực tế, trạng thái giác ngộ của tâm thì không là đàn ông hay đàn bà. Lối văn xuôi trong Những khai thị từ đức Liên Hoa Sanh, hình thức hỏi và đáp giữa Padmasambhava và Yeshe Tsogyal và các đệ tử thân thiết, thì đồng nhất với điều được tìm thấy trong các kinh và các tantra, đặc biệt trong chương mở đầu của chúng, phần ‘duyên khởi’. Bạn thấy rằng hầu hết Luật tạng về giới luật ở tu viện có được là do đức Phật được hỏi làm thế nào để đối xử với sáu tín đồ họ phạm những tà hạnh.
Sau khi trình bày câu chuyện về việc làm sau chót của họ, đức Phật chế định một giới luật mới bị cấm đoán đối với một tu sĩ. Một điểm khác là bạn rất khó tìm ra một kinh nào mà không được thuyết để trả lời cho câu hỏi của ai đó. Đầu tiên một người hỏi đức Phật về vài đề tài, và lời dạy được ban cho. Tương tự với loại chỉ dạy bằng miệng, nó chỉ được ban cho để trả lời cho một thỉnh cầu.
Các tantra được trình bày theo cùng một kiểu: nhân vật trung tâm của mạn đà la lưu xuất ra một chúng bao quanh, các thành viên của chúng thỉnh cầu lời chỉ dạy Mật thừa. Tóm lại, hình thức hỏi đáp là cách kiểu truyền thống.