Chương 1: Tổng Quan – Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Tóm tắt lý thuyết về năng lực doanh nghiệp, giá trị tạo ra cho khách hàng và mối quan hệ giữa các yếu tố. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Kiểm tra thang đo và hiệu chỉnh bảng câu hỏi, xây dựng qui trình nghiên cứu cũng như mô t ả việc triển khai nghiên cứu và thu thập dữ liệu.
Chương 3 4: Kết quả nghiên cứu – Trình bày các kết quả phân tích bằng phần mềm SPSS và đưa ra các kết luận về kết quả. Chương 5: Kết luận – Nêu lên những ý nghĩa đóng góp, cá kiến nghị, các hạn chế của luận văn cũng như đề xuất các hướng nghiên cứu mới tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ giới thiệu một số lý thuyết về nguồn lực, lý thuyết cạnh tranh dựa trên nguồn lực (RBV), lý thuyết năng lực doanh nghiệp trong đó bao gồm năng lực đổi mới, năng lực tiếp thị, năng lực sản xuất/cung cấp dịch vụ, lý thuyết về giá trị tạo ra cho khách hàng, biện luận mối quan hệ giữa các yếu tố để chọn lựa mô hình nghiên cứu từ đó đề xuất các giả thuyết nghiên cứu 2.1 Lý thuyết về nguồn lực Nguồn lực là đầu vào có giá trị cho phép doanh nghiệp sản xuất và tạo ra giá trị cho khách hàng một cách hiệu quả qua đó tạo lợi thế cạnh tranh (Shoemaker, 1993; Hunt & Morgan,1995). Đã có nhiều lý thuyết tập trung nghiên cứu, giải thích về sự cạnh tranh liên quan đến nguồn lực của doanh nghiệp.
Có thể nói đến các trường phái cạnh tranh cổ điển liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, hay lý thuyết cạnh tranh của Grant (1991) Khi xem xét đến nguồn lực của doanh nghiệp, cũng đã có nhiều hướng tiếp cận. Tuy nhiên, một cách tổng quát thì nguồn lực của doanh nghiệp được chia thành hai hình thức: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Theo Hunt và Morgan (1995), nguồn lực hữu hình có thể là các tài sản vật chất như trang thiết bị, máy móc, nguyên liệu, dự trữ tiền mặt., dựa vào đó các hoạt động được thực hiện để tạo ra hiệu quả trong khi nguồn lực vô hình có thể kể đến như kỹ năng và kiến thức của người lao động, kiến thức và khách hàng….nguồn lực vô hình đ ề cập đến những hoạt động dựa trên các nguồn lực hữu hình để tạo ra hiệu quả. Nguồn lực là trọng tâm cấu thành quan điểm Lý thuyết cạnh tranh dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp (The Resource-Based View of the firm - RBV).2 Lý thuyết cạnh tranh dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp (RBV) Nguồn lực của doanh nghiệp được định nghĩa đó là "tất cả các loại tài sản, năng lực riêng có, quá trình tổ chức, các thuộc tính riêng biệt, nguồn thông tin, kiến thức v.v… mà được kiểm soát bởi riêng doanh nghiệp đó nhằm cho phé p doanh nghiệp tự nhận thức tốt và thực thi các chiến lược để cải thiện hiệu quả công việc và hiệu suất của nguồn lực" (Barney 1991).
Wernerfelt (1984) cho rằng nguồn lực của 5 doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh và mang đến hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Quan điểm của Barney (1991) với Lý thuyết về nguồn lực được ra đời và được xem là một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo đó, quan điểm này được phát triển trên nền tảng nghiên cứu c ủa các nhà kinh tế học như Penrose (1959), Learned & ctg (1965) v.v… với sự trọng tâm hướng về các khác biệt trong bí quyết công nghệ, năng lực quản trị, các bản quyền về sản phẩm, thương hiệu giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề. Những nhà nghiên cứu theo trường phái lý thuyết này cho rằng không có sự đồng nhất trên các phương diện nguồn lực giữa các doanh nghiệp , tức là lợi thế cạnh tranh giữa họ là hoàn toàn khác nhau.
Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra khi doanh nghiệp sở hữu các nguồn lực riêng , sử dụng chúng hiệu quả và phát triển thành năng lực độc đáo mà các đối thủ cạnh tranh không thể có hoặc khó có thể bắt chước được. RBV xem xét đến nguồn lực bên trong của doanh nghiệp và các nguồn lực này phải thỏa mãn tiêu chí VRIN tức là Có giá trị (Valuable), Khan hiếm (Rare), Không dễ bắt chước (Inimitable) và không dễ thay thế (Nonsubstitutable). Amundson (1998) chỉ ra rằng có rất nhiều nguồn lực và những nguồn lực sẽ tạo ra những đặc tính riêng biệt mà sẽ hình thành nên lợ i thế cạnh tranh, và trong một số trường hợp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.3 Lý thuyết về năng lực của doanh nghiệp Grant (1991) định nghĩa rằng Năng lực được nhìn nhận ở một mô hình phức tạp của việc điều hòa giữa nguồn lực và khả năng, những yếu tố mà được tích lũy thông qua quá trình cạnh tranh. Chính vì lẽ đó, khái niệm Năng lực của tổ chức thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu của những nhà Quản trị học cũng như nhữn g nhà Quản lý doanh nghiệp bởi vì nguồn lực của tổ chức tác động vào năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững (Celuch & ctg 2002).
Theo Teece & ctg (1997) xác định cách tiếp cận năng lực là việc nhấn mạnh đến các quá trình diễn ra trong nội bộ của một doanh nghiệp cũng như doanh nghiệp sử dụng nhữn g năng 6 lực này ra sao, và ngược lại những năng lực này liên quan như thế nào trong doanh nghiệp. Tương tự, Amit & Schoemaker (1993) xác định năng lực của doanh nghiệp liên quan đến việc doanh nghiệp kết hợp triển khai những nguồn lực, trong đó nhấn mạnh việc sử dụng chúng cho những quá trình hoạt động của tổ chức sao cho tạo ra được thành quả sau cùng. Những công trình nghiên cứu của các học giả khác như Grant (1991), hoặc Stalk, Evans, & Shulman (1992) v.v… đã chứng minh những năng lực cốt lõi của doanh nghiệp giúp tạo nên nguồn lợi thế cạnh tranh. Cũng có quan điểm cho rằng năng lực được định nghĩa như một quá trình tích hợp của ba yếu tố : sở hữu (nguồn lực bên trong doanh nghiệp), ứng dụng (ứng dụng các nguồn lực vào các hoạt động của doanh nghiệp), và sử dụng hiệu quả các nguồn lực (khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực).
Yếu tố sở hữu và ứng dụng cho phép doanh nghiệp có đầy đủ nguồn lực cần thiết để tham gia vào các hoạt động tạo ra giá trị. Yếu tố sử dụng hiệu quả các nguồn lực đề cập đến các nguồn lực được tối đa hóa trong các hoạt động tạo ra giá trị hay nói cách khác nguồn lực được sử dụng đạt hiệu suất tối đa. Như vậy, năng lực được định nghĩa là một quá trình tích hợp việc sở hữu, áp dụng kiến thức tập thể, kỹ năng và nguồn lực để thực hiện các hoạt động chức năng sao cho hiệu quả. Tuy nhiên năng lực doanh nghiệp là không đồng nhất giữa các doanh nghiệp, tùy vào điều kiện cụ thể mà mỗi doanh nghiệp sẽ chú trọng vào những thế mạnh của mình so với đối thủ cạnh tranh.
Bisp 1999; Slater & Narver (1994) cho rằng, việc dựa vào sự đổi mới, tiếp thị và dựa vào sản xuất/cung cấp dịch vụ được coi là cần thiết cho phép một doanh nghiệp liên tục tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng của mình. Một cái nhìn rộng hơn ở điểm này cho thấy rằng một số loại năng lực phải tương ứng với quy trình cốt lõi để tạo ra giá trị kinh tế. Trong việc tìm kiếm để tạo ra giá trị khách hàng, năng lực đóng góp trực tiếp vào các giá trị cung cấp cho khách hàng và được phân loại một cách phù hợp với hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp (Nguồn: Liem Viet Ngo 1, Aron O'Cass (12/2007).”Creating value offerings via operant resource-based capabilities”Industrial Marketing Management 38 (2009) 45–59. Available online at www.
Nghiên cứu này năng xác định năng lực 7 cốt lõi là : Năng lực đổi mới, Năng lực tiếp thị, Năng lực sản xuất/cung cấp dịch vụ.1 Năng lực đổi mới Đổi mới không chỉ thể hiện ở việc đổi mới sản phẩm/dịch vụ của mỗi doanh nghiệp mà còn là sự đổi mới trong chiến lược, suy nghĩ, mô hình kinh doanh và trong văn hóa doanh nghiệp. Tư duy đổi mới đòi hỏi rõ ràng, cụ thể, thực tế để có thể liên kêt với những ý tưởng khác và tạo khác biệt cho sự phát triển và thành công lâu dài của doanh nghiệp. Năng lực đổi mới không chỉ là việc sở hữu về tiềm năng đổi mới (Hurley & Hult, 1998) mà còn là mức độ thực hiện đổi mới của doanh nghiệp (Weerawardena & O'Cass, 2004). Trong nghiên cứu này, năng lực đổi mới được định nghĩa là quá trình hợp nhất của các yếu tố sở hữu, áp dụng tất cả kiến thức, kỹ năng và nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện đổi mới về sản phẩm, dịch vụ, công nghệ, các và đổi mới trong công tác quản lý, điều hành sao cho tạo ra hiệu suất tối ưu.
Năng lực đổi mới thể hiện qua các yếu tố: mức độ sở hữu năng lực đổi mới (kiến thức, kỹ năng, nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu để có thể tham gia vào quá trình đổi mới), ứng dụng năng lực đổi mới vào các hoạt động của doanh nghiệp, và hiệu suất sử dụng năng lực đổi mới (hiệu quả đạt được từ các hoạt động đổi mới).”Creating value offerings via operant resource-based capabilities”Industrial Marketing Management 38 (2009) 45–59. Available online at www.2 Năng lực tiếp thị Một cách tổng quát tiếp thị là chức năng có trách nhiệm thỏa mãn nhu cầu khách hàng để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp (Kotler 2006). Vì vậy năng lực tiếp thị của doanh nghiệp thể hiện thông qua việc chuyển đổi các nguồn lực, kỹ năng của doanh nghiệp vào sản phẩm/dịch vụ cung cấp đến khách hàng. Những lợi ích mà người tiêu dùng chờ đợi từ sản phẩm/dịch vụ do doanh nghiệp cung ứng sẽ làm cho sản phẩm đó có giá trị tiêu dùng hay nói cách khác là tạo ra giá trị cho khách hàng.
Nhưng việc tạo ra giá trị cho khách hàng không phải là sự kiện mà là quá trình, quá trình này phải được đầu tư, tích lũy theo thời gian và được xây dựng trên cơ sở là 8 nguồn lực, kỹ năng, kiến thức phù hợp với thực tế của doanh nghiệp.