Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC CHUNG DẦU KHÍ 1. Lịch sử hình thành và phát triển của vấn đề khai thác chung 1. Lịch sử phát triển của Luật biển quốc tế Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển đƣợc phản ánh qua cuộc đấu tranh và điều hoà giữa hai nguyên tắc lớn: tự do biển cả và chủ quyền của quốc gia trên biển. Nguyên tắc tự do biển cả tuyệt đối đƣợc xây dựng và ủng hộ dựa trên quan niệm tài nguyên biển là vô tận.
Khi con ngƣời nhận thức đƣợc tài nguyên đó không phải là không cạn kiệt nếu nhƣ không bảo vệ và tái sinh chúng, thì một cách duy nhất có thể thực hiện đƣợc là thiết lập một trật tự pháp lý đi ngƣợc lại với nguyên tắc tự do biển cả tuyệt đối. Đặc biệt là sau Đại chiến thế giới lần thứ 2, với sự thay đổi về kinh tế và chính trị trên thế giới, sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm thay đổi sâu sắc khả năng khai thác biển, đã đặt ra nhu cầu thiết lập một trật tự pháp lý trên biển mang tính toàn cầu. Hội nghị pháp điển hoá luật quốc tế đƣợc tổ chức tại La Haye từ ngày 13-3 đến 12-4-1930 với 47 quốc gia tham dự có một trong ba nội dung chính là pháp điển hoá luật biển để bàn về các vấn đề: nguyên tắc tự do hàng hải, chế độ pháp lý của lãnh hải, đƣờng cơ sở, quy định qua lại không gây hại của tàu thuyền và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải. Hội nghị đã thất bại trong việc đƣa ra một chiều rộng lãnh hải chung, nhƣng đạt đƣợc hai nội dung rất quan trọng là: (i) công nhận các quốc gia ven biển có một lãnh hải rộng ít nhất 3 hải lý thuộc chủ quyền quốc gia, và (ii) công nhận quốc gia ven biển có - 10 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một vùng tiếp giáp lãnh hải.
Kết quả của Hội nghị là đƣa đến mối quan tâm của các quốc gia về việc tiếp tục hoàn thiện pháp điển hoá luật biển quốc tế. Trên cơ sở quy định của Hiến chƣơng Liên Hợp Quốc về việc thúc đẩy sự phát triển của luật biển quốc tế và pháp điển hoá luật pháp quốc tế theo hƣớng tích cực, Liên Hợp Quốc đã tổ chức ba hội nghị quốc tế để pháp điển hoá luật biển quốc tế. Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1958 (từ ngày 24-2 đến 29-4) tại Giơnevơ có kết quả là sự ra đời của 4 Công ƣớc quốc tế liên quan đến biển: Công ƣớc về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực kể từ ngày 10-9-1964, 48 quốc gia thành viên); Công ƣớc về biển cả (có hiệu lực kể từ ngày 10-9-1962, 59 quốc gia thành viên); Công ƣớc về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả (có hiệu lực kể từ ngày 20-3-1966, 36 quốc gia thành viên); Công ƣớc về Thềm lục địa (có hiệu lực kể từ ngày 10-6-1964, 54 quốc gia thành viên). Các Công ƣớc trên đã pháp điển hoá rất nhiều các tập quán (tự do biển cả, chế độ hàng hải, qua lại không gây hại, chế độ nội thuỷ, chế độ lãnh hải) và đƣa ra một số khái niệm mới nhƣ bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật của biển cả, Thềm lục địa…[4, tr 17- 18].
Tuy nhiên, số lƣợng quốc gia thành viên còn ít, các Công ƣớc vẫn thất bại trong việc thống nhất chiều rộng lãnh hải và xác định ranh giới của Thềm lục địa. Hội nghị lần thứ hai của Liên Hợp Quốc về luật biển đƣợc tổ chức tại Giơnevơ từ ngày 17-3 đến 26-4 năm 1960 đặt mục tiêu xem xét chiều rộng lãnh hải và ranh giới của vùng đánh cá. Tuy nhiên, hội nghị không đạt đƣợc sự nhất trí giữa các quốc gia về chiều rộng của lãnh hải. Ngày 17-8-1967, Đại sứ Malta tại Liên Hợp Quốc - Arvid Pardo - đã đƣa ra đề nghị tại phiên họp thứ 22 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc coi vùng biển nằm ngoài quyền tài phán của các quốc gia là di sản chung của nhân loại.
- 11 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề nghị đó đã nhận đƣợc sự ủng hộ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và đƣợc ghi nhận tại Nghị quyết 2749 của Đại Hội đồng LHQ ngày 17- 12-1970 “Tuyên bố về các nguyên tắc quản lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới quyền tài phán quốc gia”. Các sáng kiến này đã mở ra việc chuẩn bị cho một hội nghị mới về luật biển (thời gian trù bị diễn ra trong 5 năm từ năm 1967 đến năm 1972). Ngày 16- 11-1973, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bằng Nghị quyết 3067 đã quyết định triệu tập hội nghị lần thứ ba về luật biển nhằm thông qua một công ƣớc giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến biển. Hội nghị lần thứ 3 của Liên Hợp Quốc về Luật biển đƣợc tổ chức từ năm 1973 đến năm 1982 với 9 năm đàm phán và 11 khoá họp.
Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 đã đƣợc bỏ phiếu (103 phiếu thuận, 4 phiếu chống và 17 phiếu trắng), đƣợc ký kết tại Montego - Bay Jamaica ngày 10-12-1982 bởi 117 quốc gia (trong đó có Việt Nam), đảo Cook (quốc gia tự trị liên kết) và Fiji đã phê chuẩn và nộp lƣu chiểu cùng ngày. Mỹ và số đông các quốc gia công nghiệp phát triển (trừ Cộng hoà Pháp) không ký kết Công ƣớc 1982, phẩn đối phần XI quy định về Vùng di sản chung của loài ngƣời và thể thức điều hành của cơ quan quyền lực Vùng (Cơ quan quyền lực đáy đại dƣơng). Công ƣớc Luật biển 1982 ra đời là một bƣớc ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của luật biển quốc tế. Nó thể hiện tính đúng đắn và tiến bộ, đƣợc sự ủng hộ của đa số về các tƣ tƣởng, nguyên tắc và mục đích của một trật tự mới cho các vùng biển và đại dƣơng.
Phần lớn các quốc gia không tham gia bỏ phiếu sau đó cũng đã ký vào Công ƣớc 1982 [30, tr. Bên cạnh quy định các phƣơng pháp các phƣơng pháp có thể áp dụng xác định đƣờng cơ sở tính chiều rộng lãnh hải, Công ƣớc Luật biển 1982 quy định chế độ pháp lý về các vùng biển thành 3 loại: (i) các vùng biển thuộc chủ quyền của các quốc gia ven biển (nội thuỷ và lãnh hải); (ii) các vùng biển thuộc - 12 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền tài phán (quyền chủ quyền) của quốc gia ven biển (tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); (iii) biển cả và vùng, trong đó các quốc gia có biển hay không có biển đều đƣợc hƣởng quyền tự do biển cả đặt dƣới quyền quản lý của Cơ quan quyền lực Vùng. Công ƣớc 1982 quy định hai phƣơng pháp mà quốc gia ven biển có thể áp dụng hoặc kết hợp áp dụng để xác định đƣờng cơ sở đó là: đƣờng cơ sở thông thƣờng và đƣờng cơ sở thẳng tuỳ thuộc vào địa lý bờ biển. Đƣờng cơ sở do quốc gia ven biển tự xác định phù hợp với quy định của Công ƣớc 1982 và công bố, thể hiện trên hải đồ tỷ lệ lớn, và đó là căn cứ để xác định lãnh hải cùng nhƣ các vùng biển khác.
Đối với phƣơng pháp xác định đƣờng cơ sở thẳng, Điều 7.6 Công ƣớc 1982 quy định phƣơng pháp xác định đƣờng cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không đƣợc làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng Đặc quyền kinh tế. Lịch sử khai thác chung trong Luật biển quốc tế Ngay từ thủa khai sinh, con ngƣời đã có những hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên trên biển để phục vụ cho nhu cầu tất yếu của mình và cũng nhận thức đƣợc vai trò thiết yếu của biển trong mối liên hệ trực tiếp đối với mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội…Điều đó đã góp phần thúc đẩy các quốc gia không ngừng tìm cách mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, dẫn đến các tranh chấp của các quốc gia. Công ƣớc 1982 ra đời góp phần thiết lập một trật tự pháp lý mới, mở rộng đáng kể quyền và chủ quyền của các quốc gia ven biển, đặc biệt là quyền chủ quyến đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Mặc dù vậy, việc áp dụng nó trên thực tế còn mang nhiều tranh cãi, bởi ở những vùng biển hẹp, các quốc gia có bờ biển kề cận hoặc đối diện sẽ có sự chồng lấn.
Lúc này cần phải có sự đàm phán giữa các quốc gia để phân định biển. Tuy nhiên, đây là vấn đề khó khăn và gây nhiều tranh cãi. Trên thực tế, các quốc gia đều vận - 13 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng và giải thích Công ƣớc 1982 theo hƣớng mang lại lợi ích tối đa cho mình khi đƣa ra các yêu sách về chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển. Trong khi đó, Công ƣớc 1982 về luật biển lại chƣa quy định cụ thể việc xác định các đƣờng biên giới trên biển để các quốc gia có thể dễ dàng đi đến thoả thuận phân định các vùng biển có tranh chấp, do đó quá trình đàm phán để đi đến thoả thận cuối cùng về phân định biển thƣờng rất phức tạp và kéo dài, nhiều trƣờng hợp các quốc gia hữu quan phải nhờ đến phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế.
Trong khi chƣa có kết luận cuối cùng cho vùng biển tranh chấp, các quốc gia có thể xác lập một thoả thuận tạm thời để cùng nhau khai thác tài nguyên ở toàn bộ hoặc một phần khu vực chồng lấn. Đây là biện pháp hữu hiệu đƣợc các quốc gia lựa chọn nhằm khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên biển, ngăn chặn các mâu thuẫn xung đột phát sinh từ việc khai thác đơn phƣơng của các quốc gia, tránh đƣợc lãng phí do không khai thác đƣợc các nguồn tài nguyên biển trong giai đoạn quá độ của việc phân định biển. Theo các nhà nghiên cứu, ý tƣởng về khai thác chung đã xuất hiện ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu và các án lệ về khai thác dầu mỏ ở Mỹ. Tiếp đến thoả thuận Bahrian - Ảrập Xêút ngày 22/2/1958, thoả thuận Cô oét - Ảrập Xêút ngày 07/7/1965 cũng đã đề cập đến việc khai thác chung.
Thoả thuận Bahrian - Ảrập Xêút ngày 22/2/1958 xác lập mô hình khai thác chung dầu khí tại khu vực biển đã có đƣờng ranh giới phân định, với thiện chí rất cao của các quốc gia ký kết.