đặt vấn đề,những liên tưởng độc đáo và sáng tạo, những giá trị tinh thần làm bừng sáng lên nội dung tư tưởng của bài thơ. Tất cả những yếu tố đó thuộc về vẻ đẹp trí tuệ trong thơ. Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong sáng tạo của nghệ thuật. Chất thơ của mỗi nhà thơ được hình thành với những đặc điểm riêng do trình độ và năng lực tinh thần, do hoàn cảnh từng cá nhân qui định.
Có thể thông qua 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành phần cấu tạo của chất thơ mà tìm hiểu những mặt nhất định của phong cách thơ của từng tác giả. Ví dụ chất thơ trong thơ Tố Hữu nói chung là tạo ra được sự hài hòa giữa các nhân tố.Thơ Tố Hữu giàu cảm xúc, tưởng tượng và có những bài giàu chất sống thực tế. Tố Hữu cũng có ý thức phản ánh cuộc sống một cách cao đẹp. Chất thơ trong thơ Tế Hanh nổi bật lên hai yếu tố: cảm xúc và cái đẹp.
Cái đẹp trong thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực tại khách quan với cái đẹp trong tâm hồn người nghệ sỹ. Do đó, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về chất thơ trong văn học nhưng có thể tổng hợp các ý kiến đó trong cách hiểu sau: “Với trí tưởng tượng phong phú và những rung động sâu xa của tâm hồn, nhà thơ phản ánh hiện thực xã hội và tâm trạng con người thông qua hệ thống những cảm nghĩ và những hình ảnh tiêu biểu cho đời sống trên cơ sở của ngôn ngữ gợi cảm chọn lọc và giàu nhịp điệu”. Chất thơ trong tác phẩm văn học tạo nên nguồn cảm hứng lãng mạn, khẳng định “cái tôi” đầy tình cảm, cảm xúc hướng tới lí tưởng. Chính cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ con người vượt lên hiện thực khổ đau, đen tối, gian khổ để hướng tới một tương lai tươi sáng.
Cảm hứng lãng mạn trở thành cảm hứng chủ đạo không chỉ trong thơ mà còn còn trong nhiều thể loại văn học khác để người ta có thể nói tới chất thơ của nó.1 Chất thơ trong thơ trữ tình Người ta thường nói đến chất thơ trong tác phẩm văn học nhưng chất thơ biểu hiện đậm đặc và sâu sắc nhất là trong thơ trữ tình. Có lẽ đó là điều dễ hiểu bởi ““Từ thời cổ đại đến nay, văn chương nhân loại có các loại thơ: thơ sử thi, thơ bi kịch, thơ tự sự, thơ trữ tình, thơ trào phúng, phúng thích, thơ thế sự, thơ quảng bá ý tưởng, tuyên truyền, quảng cáo, thơ thoại trong kịch. Mỗi khi bàn về thơ, người ta chỉ bàn về thơ trữ tình, mặc nhiên coi nó là tiêu biểu của thơ…” Điểm mấu chốt để phân biệt thơ trữ tình với những thể thơ khác là ở mục đích và phương thức biểu đạt riêng. Thơ trữ tình không chỉ có mục đích “ viết ra nhằm biểu đạt tình cảm ,cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với xung quanh” mà còn để bày tỏ về chính mình trong những “rung động cụ thể, cảm tính, hình ảnh, giàu màu sắc nhạc tính” [12, tr98-99] Nếu nói văn học phản ánh hiện thực thì hiện thực trong thơ trữ tình chủ yếu là hiện thực tâm hồn của chính nhà thơ, người tạo ra văn bản.
Hay nói cách khác 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất thơ trong thơ trữ tình trước hết được thể hiện ở cảm xúc trực tiếp của chủ thể tác giả- người sáng tác ra văn bản thơ. Những cung bậc tình cảm của nhà thơ dù là một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng, thiết tha, dù kéo dài triền miên, trĩu nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với một cái gì đó của đời sống bên ngoài nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín của trái tim và tâm hồn người nghệ sĩ. Phải thâm nhập vào thế giới tâm hồn của chủ thể, hình dung được trạng thái xúc cảm của tác giả trong quá trình hình thành văn bản chứ không phải nhìn vào nội dung được nói tới của bài thơ ấy sau khi nó đã hoàn thành. Muốn thế phải thâm nhập vào tiếng nói của chủ thể để cảm thông, lắng nghe, hình dung… và phải đọc lên cho cảm xúc hiện ra trong hình ảnh, nhịp điệu.
Có thể lấy ví dụ từ một câu ca dao giản dị, quen thuộc: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Ta thường có thói quen nghĩ rằng: tác giả dân gian đã dùng một ẩn dụ để diễn tả mối tương quan khăng khít thủy chung giữa Thuyền và Bến. Nhưng đọc cho “ vang nhạc sáng hình” câu ca dao trên, ta nhận thấy tâm trạng lo âu, khắc khoải, nghi ngờ của Bến và chỉ của Bến mà thôi.Tác giả dân gian đã mượn hình ảnh Thuyền và Bến để gửi gắm một nỗi khát khao về lòng chung thủy trong một dấu hỏi tu từ đầy tâm trạng, trong âm hưởng vừa tha thiết, bồn chồn, khắc khoải…của chủ thể. Sự chung thủy, gắn bó khát khao của Bến (chủ thể của câu ca dao) chứ không phải sự chung thủy của Bến và Thuyền như một giá trị bất biến. Thơ hay chính là thơ đã diễn tả cái xao động và ao ước ấy.
Chất thơ, sức hấp dẫn của câu ca dao trên chính là đã giãi bày tâm trạng và khát khao của chủ thể trữ tình. Từ đó, có thể khẳng định rằng: Thơ trữ tình chính là những nỗi niềm tâm sự riêng của tác giả. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng, những sự kiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng in lại đậm nét trong thơ.
Nói như Hàn Mặc Tử: Người thơ phong vận như thơ ấy Garxia Lorca cũng nói một cách cảm động về mối quan hệ giữa nhà thơ và đời thơ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Mỗi bài thơ mà hôm nay tôi trao vào tay bạn đọc thân mến là nảy sinh cùng với mầm mống trên cái cây xao động của cuộc đời đang nở hoa. Coi thường quyển sách này sẽ là tàn nhẫn bởi vì nó gắn liền khăng khít với bản thân cuộc đời tôi. Ở ngay sự yếu đuối của nó, sự nghèo nàn mà tôi thừa nhận vẫn có một sức mạnh của nó trong số những sức mạnh khác mà chỉ có tôi mới phát hiện được”. Sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác là một hiện tượng khá phổ biến.
Thơ trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Phan Bội Châu, Tố Hữu ….đều biểu hiện rõ nét sự thống nhất trên. Thái độ bất bình với những xấu xa và lố lăng của xã hội, nụ cười mỉa mai và trào lộng đều có những liên hệ khá trực tiếp với cuộc đời riêng của Tú Xương, nhà nho yêu nước, long đong chuyện thi cử, và cái nghèo năm tháng quẩn quanh. Tuy nhiên cần lưu ý là không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong tác phẩm. Có những trường hợp cái tôi trữ tình trong thơ khác biệt đến xa lạ với con người thuộc cuộc sống thực của nhà thơ.
Có thể kể ra đây ví dụ: Veclen con người lang thang trong các quán rượu đắm chìm trong những mộng tưởng xa lạ, với Vélen- nhà thơ có những vần thơ tỉnh táo ca ngợi Ba- lê công xã. Do đó: Cái tôi trữ tình không phải bao giờ cũng là cái tôi của tác giả sáng tác ra bài thơ, nhưng nó lại là cơ sở trực tiếp nhất sáng tạo nên thi ca. Đi vào thế giới của chủ thể chính là đi vào bản chất, cốt lõi của thơ vậy.Có thể đưa ra đây ví dụ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hành cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Giạ- Hàn Mặc Tử) Trong khổ thơ trên, xét trên bề mặt văn bản, “anh” là đối tượng được nói tới. Vậy chủ thể trữ tình phải là em.
Nhưng thực chất xúc cảm lại là của tác giả. Trong trường hợp này nhà thơ đã mượn lời cô gái để bày tỏ cảm xúc của mình. Đây là hình thức chuyển cảm xúc của chủ thể cho khách thể. Trong thơ, vấn đề ai nói, và nói với ai rất quan trọng trong cảm thụ nghệ thuật.
Thơ là tiếng nói tri âm, nó luôn hướng tới một đối tượng để tìm một tiếng nói cảm thông chia sẻ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu nội dung chủ yếu trong thơ trữ tình là thế giới tâm hồn chủ thể tác giả thì yếu tố biểu đạt nội dung đó không gì hiệu quả hơn là giọng điệu. Giọng điệu vốn là yếu tố thể hiện linh hồn, phong cách… trong tác phẩm văn học nói chung. Riêng với thơ, thì giọng điệu còn là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên chất thơ trong thơ trữ tình, cũng là yếu tố giúp ta nhận ra cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.
Không có cách nào khác để chúng ta cảm nhận nhạc điệu của thơ là hãy đọc thành tiếng, đọc cho “vang nhạc sáng hình” những vần thơ để thấy khả năng biểu cảm của ngôn ngữ thơ Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…. (Mẹ Tơm – Tố Hữu) Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín- Hàn Mặc Tử) Nói về sức mạnh biểu cảm của yếu tố âm nhạc trong thơ, một nhà mĩ học Bun- ga-ri từng nói: “Trong thơ ca, nhạc tính xuyên thấm không chỉ hình thức, không chỉ âm thanh mà cả tư tưởng chủ đạo, và không một ai lại có thể bằng các khái niệm logic trình bày cho hết được ấn tượng của mình trước một tự thuật trữ tình. Ý nghĩa, hình ảnh, tâm trạng…chỉ trở thành năng sản đối với thơ ca khi chúng có màu sắc nhạc tính”. Trong các câu thơ đã dẫn, các hình thức điệp không tồn tại độc lập.
Nhiểu câu có cả điệp phụ âm, điệp vần, điệp từ, điệp ngữ…tạo nên sự cộng hưởng, ngân vang, tự nó có ý nghĩa biểu cảm, tự nó tạo nên những rung động trong tâm hồn người đọc dễ hiểu vì sao “Chúng ta thích đọc thơ, ngâm thơ, thuộc thơ cũng gần như người yêu âm nhạc thích hát. Người ta có thể hát mãi một ca khúc hay, cũng như một bài thơ hay, ta có thể đọc, ru, ngâm mãi suốt đời.