CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN, LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu theo hướng tiếp cận các nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam Trong các quan tâm nghiên cứu về sức khỏe ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến bất bình đẳng trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe từ góc độ độ tuổi, dân tộc, và nhất là kinh tế và giới. Như đã được đề cập ở phần đầu, nghiên cứu giới và sức khỏe là chủ đề được các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu trong các viện nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm. Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các tổ chức can thiệp có chính sách tốt hơn và can thiệp tốt hơn về bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe.
Việc các nghiên cứu ở Việt Nam tập trung vào các nghiên cứu ứng dụng là vì việc thực hiện các chính sách của chính phủ về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe nói riêng. Chính phủ Việt Nam đã cam kết trong mục tiêu thiên niên kỷ về giới và sức khỏe. Đó là, mục tiêu 3 về nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ; mục tiêu 4 về giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; mục tiêu 5 về cải thiện sức khỏe bà mẹ; mục tiêu 6 về phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác. Nghiên cứu bất bình đẳng trong nghiên cứu sức khỏe bà mẹ và trẻ em đưa ra các rào cản đối với bà mẹ và trẻ em, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số, thiếu hoặc không tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Binder-Finnema và các tác giả, 2015; Goland và các tác giả, 2012; Đặng Bích Thủy, 2015a, 2015b; Trần Quý Long, 2009; Văn Kim Chiến, 2008; Lê Thị Đan Dung, 2016; Cao Thị Hà, 2012; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, Trần Quý Long, 2016; Đặng Ánh Tuyết, 2006; Đoàn Kim Thắng, 2007).
Nghiên cứu bất bình đẳng 14 giữa các tộc người trong chăm sóc sức khỏe cho rằng những yếu tố về địa lý hay các vấn đề khác như học vấn, việc làm, thu nhập của các tộc người thiểu số đã hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ y tế hơn nhóm người Kinh hoặc giữa các nhóm dân tộc trong chăm sóc sức khỏe (Rodgers và Menon, 2010; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng & Trần Quý Long, 2016; Phạm Văn Quyết, 2006). Đô thị có điều kiện thuận lợi hơn nông thôn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là câu hỏi nghiên cứu bất bình đẳng giữa nông thôn, đô thị (Rodgers và Menon, 2010; Dương Chí Thiện, 2013). Nghiên cứu bất bình đẳng kinh tế trong chăm sóc sức khỏe cho rằng người giàu hoặc người có thu nhập tốt hơn sẽ có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế tốt hơn hay chăm sóc cho sức khỏe tốt hơn (Nguyen Thi Minh Thoa và cộng sự, 2013; Nguyễn Thị Ngân Hoa, 2010; Rodgers và Menon, 2010; Dao và các tác giả, 2008; Dao và các tác giả, 2006; Khe và các tác giả, 2004; Le và các tác giả, 2009; Lim và các tác giả 2014; Nguyen Minh Thang, 2003; Nguyen Minh Thang & Popkin, 2004; Segall và các tác giả, 2002; Tran và các tác giả, 2017; Vu Duy Kien và các tác giả, 2016; Vu Duy Kien và các tác giả, 2017). Sau đổi mới (1986), chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường đã tạo ra phân tầng trong thu nhập và đưa đến bất bình đẳng trong chăm sóc y tế giữa các nhóm thu nhập.
Nghiên cứu về bình đẳng giữa các giai tầng xã hội (Vu Duy Kien và cộng sự, 2014; Đặng Kim Khánh Lý, 2018) cũng cho thấy có khác biệt giữa các giai tầng khác nhau trong chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe chiếm số lượng ít hơn. Tuy nhiên, vì Luận án này nghiên cứu xem xét chiều kích giới trong chăm sóc sức khỏe, cụ thể là liên quan đến việc nhận diện và điều trị bệnh tật nên chúng tôi sẽ thảo luận kỹ hơn về các nghiên cứu bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe. Ở chiều kích phân tích bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe, câu hỏi nghiên cứu chính là tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nam giới và nữ giới có khác nhau hay không và trong chừng mực thì việc lý giải cho sự khác biệt giới này cũng được đặt ra.
Tất nhiên, các 15 nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị chính sách về bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe (Nguyen Cuong, 2012; Rodgers và Menon, 2010; Teerawichitchainan, 2014; Nguyễn Thị Ngân Hoa 2010; Johansson và các tác giả, 2000; Long và các tác giả, 2001; Johansson & Winkvist, 2002; Thorson & Johansson, 2004; Go, 2002). Các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sử dụng số liệu từ các cuộc điều tra của quốc gia như Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam, Khảo sát y tế quốc gia Việt Nam, Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam, các điều tra của UNICEF và các điều tra của cá nhân các nhà nghiên cứu. Trước hết, nhóm các tác giả sử dụng số liệu Điều tra quốc gia đưa ra xu hướng chung của bất bình đẳng giới nhưng chưa lý giải lý do của bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe. Từ số liệu khảo sát của cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam qua các năm 2004, 2006, và 2008, với việc phân tích hồi qui đa biến đáng tin cậy, kết quả nghiên cứu Nguyen Cuong (2012) chỉ ra phụ nữ sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại trú và nội trú nhiều hơn nam giới.
Tác giả cho rằng sau khi các đặc điểm quan sát được kiểm soát, phụ nữ vẫn đến trung tâm chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn nam giới (tr. Cũng từ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008 với phân tích tương quan hai biến, Rodgers và Menon (2010) nghiên cứu về giới và tình trạng sức khỏe và việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cũng như các chiều kích khác như chiều kích kinh tế, chiều kích tuổi, giáo dục, và chiều kích dân tộc. Về chiều kích giới và tình trạng sức khỏe, các tác giả kết luận rằng phụ nữ trên 14 tuổi báo cáo bệnh nhiều hơn nam giới cả bệnh trong 4 tuần qua và bệnh trong 12 tháng qua (tr. Nữ giới báo cáo bệnh tật cao hơn nam giới cả ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị, bảy vùng miền ở Việt Nam, tất cả các dân tộc, năm nhóm thu nhập, và trình độ học vấn (từ 15-49 tuổi) (Bảng 4.
Về giới và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các tác giả cho rằng gần hai phần ba những người báo cáo bệnh tật trong năm qua đã đến 16 gặp một nhân viên chăm sóc sức khỏe hoặc trung tâm chăm sóc sức khỏe (tr. Các tác giả chỉ ra nhóm 15-59 tuổi thì nữ đến các dịch vụ y tế nhiều hơn nam, cả khu vực nông thôn và thành thị (Bảng 4. Việc lựa chọn các cơ sở y tế, thì cho thấy nam lựa chọn bệnh viện công nhiều hơn nữ, ngược lại nữ lựa chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn nam (Bảng 4. Tuy nhiên, trong khu vực thành thị, nam giới sử dụng bệnh viện cấp tỉnh nhiều hơn nữ giới; ngược lại, ở khu vực nông thôn, phụ nữ sử dụng trạm y tế nhiều hơn đàn ông (tr.
Phụ nữ thành thị có chi tiêu cao hơn cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với đàn ông thành thị, ngược lại phụ nữ nông thôn có chi phí chăm sóc sức khỏe thấp hơn nam giới nông thôn. Tuy nhiên, trong số các chi phí đó, nam giới ở cả thành thị và nông thôn được bảo hiểm y tế chi trả nhiều hơn nữ giới (tr. Mặc dù Nguyen Cuong (2012) đã sử dụng phương pháp phân tích hồi qui đa biến và Rodgers và Menon (2010) với phân tích tương quan hai biến số và không kiểm định đã kết luận bất bình đẳng giới trong sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, nhưng các tác giả chưa lý giải hoặc đưa ra các giả thuyết về sự bất bình đẳng giới. Số liệu định lượng chỉ đưa ra được xu hướng của bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, đây là số liệu phân tích rất hữu ích cho các nghiên cứu về giới và sức khỏe. Các tác giả đưa ra các khuyến nghị chính sách. Nguyen Cuong (2012) đưa ra khuyến nghị về khuôn mẫu bất bình đẳng giới và sức khỏe ở Việt Nam (tr. Rodgers và Menon (2010) cho rằng chính phủ đã ưu tiên nhấn mạnh vào nhu cầu của phụ nữ và các thành viên dễ bị tổn thương trong dân số.
Mặc dù đối thoại chính sách về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, một số vùng trong nước thực tế đã chậm trễ trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được tài trợ công khai và rộng rãi (tr. Teerawichitchainan (2014) dựa vào dữ liệu Khảo sát Y tế Quốc gia Việt Nam năm 2001-02 để kiểm tra sự khác biệt giới trong hai chỉ số quan trọng về tình trạng sức khỏe của người già: (1) sức khỏe tự đánh giá và (2) tỷ lệ tăng huyết áp.000 hộ gia đình, 160.200 xã trên toàn quốc, giới hạn mẫu cho những người 60 tuổi trở lên (15.214 người), tác giả kết luận 17 rằng phụ nữ lớn tuổi tự đánh giá sức khỏe của họ tiêu cực hơn so với nam giới lớn tuổi, và không có sự khác biệt nào về bệnh huyết áp cao giữa đàn ông lớn tuổi và phụ nữ lớn tuổi khi họ tự báo cáo. Tuy nhiên, đàn ông lớn tuổi bệnh huyết áp cao nhiều hơn phụ nữ lớn tuổi khi đo huyết áp trực tiếp. Điều này cho thấy những người đàn ông lớn tuổi có xu hướng không nhận ra rằng họ bị huyết áp cao (tr.
Cũng như các tác giả Nguyen Cuong (2012), Rodgers và Menon (2010) không giải thích được lý do của bất bình đẳng nhưng Teerawichitchainan đã đưa ra giả thuyết cho sự khác biệt giới. Tác giả cho rằng "Phụ nữ Việt Nam cảm thấy kiệt sức hơn nam giới vì kỳ vọng của gia đình, cộng đồng, và xã hội đối với họ trong việc hoàn thành vai trò sản xuất kinh tế cũng như trách nhiệm trong gia đình lớn hơn nam giới. Điều này có lẽ đưa đến việc phụ nữ tự đánh giá tiêu cực về sức khỏe và hạnh phúc hơn nam giới" (tr.