Khác Biệt Giới Trong Việc Nhận Diện Và Điều Trị Bệnh Tật Của Cư Dân Nông Thôn Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Sự khác biệt giới trong việc nhận diện và điều trị bệnh tật của cư dân nông thôn việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

323
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về mười hai cộng đồng nghiên cứu

1.2. Các xã thuộc địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.3. Các xã thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa

1.4. Các xã thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Long

1.5. Xã Tân An Hội (huyện Mang Thít)

1.6. Miêu tả mẫu nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC NHẬN DIỆN BỆNH TẬT VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM SỰ GIÚP ĐỠ

2.1. Sự khác biệt giới trong việc nhận diện bệnh tật

2.2. Miêu tả bệnh tật qua hai cuộc khảo sát

2.3. Miêu tả sự khác biệt giới trong việc nhận diện bệnh tật

2.4. Bệnh cấp tính

2.5. Kiến tạo giới trong việc nhận diện bệnh tật

2.6. Sự khác biệt giới trong hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ

2.7. Miêu tả sự khác biệt giới trong hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ

2.8. Kiến tạo giới trong hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ

2.9. Lý do trì hoãn việc khám chữa bệnh

2.10. Giới và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ

3. CHƯƠNG 3: SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH VÀ CHI TIÊU CHO ĐIỀU TRỊ BỆNH TẬT

3.1. Sự khác biệt giới trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

3.2. Miêu tả sự khác biệt giới trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

3.3. Kiến tạo giới trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

3.4. Sự khác biệt giới trong chi tiêu cho điều trị bệnh tật

3.5. Miêu tả sự khác biệt giới trong chi tiêu cho điều trị bệnh tật

3.6. Kiến tạo giới trong chi tiêu cho điều trị bệnh tật

4. CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khác Biệt Giới Trong Y Tế Nông Thôn Việt Nam

Nghiên cứu về khác biệt giới trong lĩnh vực y tế, đặc biệt tại nông thôn Việt Nam, là một chủ đề ngày càng được quan tâm. Sức khỏe không chỉ là trạng thái không bệnh tật mà còn là sự khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội. Sự kiến tạo giới ảnh hưởng đến cách nam và nữ trải nghiệm và đối phó với bệnh tật. Phụ nữ thường sống lâu hơn nhưng lại có xu hướng mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Các yếu tố sinh học và văn hóa xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những khác biệt này. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ đề tài "Sức khỏe dân số nông thôn Việt Nam" để kiểm định các giả thuyết liên quan đến bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu giới và sức khỏe

Nghiên cứu về giới và sức khỏe không chỉ đóng góp vào học thuật mà còn giúp các nhà hoạch định chính sách và tổ chức can thiệp xây dựng chính sách tốt hơn về bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng phụ nữ thường sử dụng các dịch vụ chăm sóc ngoại trú và nội trú nhiều hơn nam giới. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt này. Theo Mikkonen và Raphael (2010), giới là một trong mười bốn nhân tố xã hội quyết định đến tình trạng sức khỏe của cá nhân.

1.2. Tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu giới và sức khỏe

Các nghiên cứu về giới và sức khỏe thường dựa trên các khung lý thuyết khác nhau, dẫn đến những lý giải khác nhau về sự kiến tạo giới. Ví dụ, cuộc tranh luận giữa Courtenay và O'Brien về sĩ diện nam tính đã ảnh hưởng đến cách giải thích về sức khỏe của nam giới. Trong khi Courtenay cho rằng sĩ diện nam tính khiến nam giới miễn cưỡng tìm kiếm sự tư vấn y tế, thì O'Brien lại cho rằng đàn ông coi trọng sức khỏe hơn việc giữ gìn nam tính. Việc lựa chọn khung lý thuyết phù hợp là rất quan trọng để hiểu rõ bản chất của khác biệt giới trong y tế.

II. Thách Thức Trong Nhận Diện Bệnh Tật Ở Nông Thôn Việt Nam

Việc nhận diện bệnh tậtnông thôn Việt Nam gặp nhiều thách thức do sự khác biệt về kiến thức về sức khỏe, tiếp cận dịch vụ y tếảnh hưởng văn hóa. Nam và nữ có thể có những biểu hiện bệnh khác nhau và cách họ cảm nhận và mô tả bệnh tật cũng có thể khác nhau. Điều này có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ y tế và ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu sự khác biệt giới trong việc nhận diện bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này.

2.1. Ảnh hưởng của kiến thức về sức khỏe đến nhận diện bệnh tật

Kiến thức về sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện bệnh tật. Những người có kiến thức tốt hơn về các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh thường có khả năng phát hiện bệnh sớm hơn và tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời. Tuy nhiên, kiến thức về sức khỏe có thể khác nhau giữa nam và nữ, đặc biệt ở nông thôn Việt Nam, nơi mà phụ nữ có thể ít có cơ hội tiếp cận thông tin và giáo dục về sức khỏe hơn nam giới. Điều này có thể dẫn đến sự bất bình đẳng giới trong việc nhận diện bệnh tật.

2.2. Rào cản về tiếp cận dịch vụ y tế ở vùng nông thôn

Tiếp cận dịch vụ y tế là một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến việc nhận diện và điều trị bệnh tật. Ở nông thôn Việt Nam, nhiều người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế do khoảng cách địa lý, chi phí cao và chất lượng dịch vụ hạn chế. Sự bất bình đẳng giới cũng có thể tồn tại trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, khi mà phụ nữ có thể gặp nhiều rào cản hơn nam giới, chẳng hạn như sự phụ thuộc vào chồng hoặc gia đình trong việc quyết định đi khám bệnh.

III. Phân Tích Sự Khác Biệt Giới Trong Hành Vi Tìm Kiếm Hỗ Trợ Y Tế

Hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ y tế (help-seeking behavior) là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe. Tuy nhiên, hành vi này có thể khác nhau giữa nam và nữ do ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hộikinh tế. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích sự khác biệt giới trong hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ y tế ở nông thôn Việt Nam, bao gồm cả việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ sở y tế chính thức và không chính thức.

3.1. Vai trò giới và ảnh hưởng đến quyết định tìm kiếm hỗ trợ

Vai trò giới có thể ảnh hưởng đến quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ y tế. Ở nhiều cộng đồng nông thôn Việt Nam, nam giới thường được kỳ vọng là mạnh mẽ và không dễ bị bệnh tật, trong khi phụ nữ thường được kỳ vọng là chăm sóc sức khỏe cho gia đình. Điều này có thể dẫn đến việc nam giới trì hoãn việc tìm kiếm sự giúp đỡ y tế, trong khi phụ nữ có thể tìm kiếm sự giúp đỡ sớm hơn, đặc biệt là khi liên quan đến sức khỏe của con cái.

3.2. Ảnh hưởng của văn hóa và niềm tin truyền thống

Văn hóaniềm tin truyền thống cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ y tế. Nhiều người dân ở nông thôn Việt Nam vẫn tin vào các phương pháp chữa bệnh truyền thống, chẳng hạn như sử dụng thuốc nam hoặc tìm đến thầy cúng. Điều này có thể dẫn đến việc họ trì hoãn việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ sở y tế hiện đại hoặc kết hợp cả hai phương pháp điều trị.

3.3. Tác động của chi phí và bảo hiểm y tế đến hành vi

Chi phí y tếbảo hiểm y tế là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ y tế. Nhiều người dân ở nông thôn Việt Nam không có khả năng chi trả cho các dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ chuyên khoa. Bảo hiểm y tế có thể giúp giảm bớt gánh nặng chi phí, nhưng tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế ở nông thôn vẫn còn thấp.

IV. Lựa Chọn Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Khác Biệt Giới Ở Nông Thôn

Việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh cũng có sự khác biệt giới đáng kể ở nông thôn Việt Nam. Nam và nữ có thể ưu tiên các loại hình cơ sở y tế khác nhau, chẳng hạn như trạm y tế xã, bệnh viện huyện, hoặc các phòng khám tư nhân. Sự lựa chọn này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chi phí, chất lượng dịch vụ, khoảng cách địa lýniềm tin cá nhân.

4.1. Ưu tiên của nam và nữ đối với các loại hình cơ sở y tế

Nghiên cứu cần làm rõ liệu nam giới và phụ nữ có xu hướng ưu tiên các loại hình cơ sở y tế khác nhau hay không. Ví dụ, nam giới có thể thích đến các bệnh viện lớn hơn, nơi có các bác sĩ chuyên khoa, trong khi phụ nữ có thể thích đến các trạm y tế xã, nơi gần nhà và có các nhân viên y tế quen thuộc. Sự khác biệt này có thể phản ánh sự khác biệt về vai trò giớitrách nhiệm gia đình.

4.2. Ảnh hưởng của khoảng cách và giao thông đến lựa chọn

Khoảng cách địa lýgiao thông là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt ở nông thôn Việt Nam. Những người sống ở vùng sâu vùng xa có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận các cơ sở y tế ở thành phố hoặc thị trấn. Điều này có thể dẫn đến việc họ phải lựa chọn các cơ sở y tế gần nhà hơn, ngay cả khi chất lượng dịch vụ không cao.

V. Chi Tiêu Y Tế Phân Tích Khác Biệt Giới Tại Nông Thôn Việt Nam

Chi tiêu cho điều trị bệnh tật là một gánh nặng tài chính đối với nhiều gia đình ở nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu này phân tích sự khác biệt giới trong chi tiêu cho điều trị bệnh tật, bao gồm cả chi phí trực tiếp (ví dụ: tiền khám bệnh, tiền thuốc) và chi phí gián tiếp (ví dụ: chi phí đi lại, mất thu nhập).

5.1. Gánh nặng chi phí y tế đối với nam và nữ

Cần xác định liệu nam giới và phụ nữ có phải đối mặt với gánh nặng chi phí y tế khác nhau hay không. Ví dụ, phụ nữ có thể phải chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong khi nam giới có thể phải chi tiêu nhiều hơn cho các bệnh liên quan đến lối sống. Sự khác biệt này có thể phản ánh sự bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội kinh tế.

5.2. Tác động của bảo hiểm y tế đến chi tiêu y tế

Bảo hiểm y tế có thể giúp giảm bớt gánh nặng chi phí y tế, nhưng tác động của nó có thể khác nhau đối với nam và nữ. Ví dụ, phụ nữ có thể được hưởng lợi nhiều hơn từ bảo hiểm y tế do họ có xu hướng sử dụng các dịch vụ y tế nhiều hơn nam giới. Tuy nhiên, cần xem xét liệu bảo hiểm y tế có đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cả nam và nữ hay không.

VI. Giải Pháp và Chính Sách Cải Thiện Sức Khỏe Giới Ở Nông Thôn

Để cải thiện sức khỏe của cả nam và nữ ở nông thôn Việt Nam, cần có những giải pháp và chính sách toàn diện, tập trung vào việc giảm thiểu sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận dịch vụ y tế, nâng cao kiến thức về sức khỏe và thay đổi hành vi sức khỏe.

6.1. Nâng cao nhận thức về sức khỏe giới và phòng bệnh

Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe giới, tập trung vào việc nâng cao nhận thức về các vấn đề sức khỏe đặc thù của nam và nữ, cũng như các biện pháp phòng ngừa bệnh tật. Các chương trình này nên được thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của từng cộng đồng.

6.2. Cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế và bảo hiểm y tế

Cần tăng cường đầu tư vào hệ thống y tế ở nông thôn, cải thiện chất lượng dịch vụ và giảm chi phí y tế. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế và đảm bảo rằng tất cả người dân, đặc biệt là phụ nữ và người nghèo, đều có thể tiếp cận bảo hiểm y tế.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN, LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu theo hướng tiếp cận các nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam Trong các quan tâm nghiên cứu về sức khỏe ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến bất bình đẳng trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe từ góc độ độ tuổi, dân tộc, và nhất là kinh tế và giới. Như đã được đề cập ở phần đầu, nghiên cứu giới và sức khỏe là chủ đề được các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu trong các viện nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm. Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các tổ chức can thiệp có chính sách tốt hơn và can thiệp tốt hơn về bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe.

Việc các nghiên cứu ở Việt Nam tập trung vào các nghiên cứu ứng dụng là vì việc thực hiện các chính sách của chính phủ về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe nói riêng. Chính phủ Việt Nam đã cam kết trong mục tiêu thiên niên kỷ về giới và sức khỏe. Đó là, mục tiêu 3 về nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ; mục tiêu 4 về giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; mục tiêu 5 về cải thiện sức khỏe bà mẹ; mục tiêu 6 về phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác. Nghiên cứu bất bình đẳng trong nghiên cứu sức khỏe bà mẹ và trẻ em đưa ra các rào cản đối với bà mẹ và trẻ em, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số, thiếu hoặc không tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Binder-Finnema và các tác giả, 2015; Goland và các tác giả, 2012; Đặng Bích Thủy, 2015a, 2015b; Trần Quý Long, 2009; Văn Kim Chiến, 2008; Lê Thị Đan Dung, 2016; Cao Thị Hà, 2012; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, Trần Quý Long, 2016; Đặng Ánh Tuyết, 2006; Đoàn Kim Thắng, 2007).

Nghiên cứu bất bình đẳng 14 giữa các tộc người trong chăm sóc sức khỏe cho rằng những yếu tố về địa lý hay các vấn đề khác như học vấn, việc làm, thu nhập của các tộc người thiểu số đã hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ y tế hơn nhóm người Kinh hoặc giữa các nhóm dân tộc trong chăm sóc sức khỏe (Rodgers và Menon, 2010; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng & Trần Quý Long, 2016; Phạm Văn Quyết, 2006). Đô thị có điều kiện thuận lợi hơn nông thôn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là câu hỏi nghiên cứu bất bình đẳng giữa nông thôn, đô thị (Rodgers và Menon, 2010; Dương Chí Thiện, 2013). Nghiên cứu bất bình đẳng kinh tế trong chăm sóc sức khỏe cho rằng người giàu hoặc người có thu nhập tốt hơn sẽ có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế tốt hơn hay chăm sóc cho sức khỏe tốt hơn (Nguyen Thi Minh Thoa và cộng sự, 2013; Nguyễn Thị Ngân Hoa, 2010; Rodgers và Menon, 2010; Dao và các tác giả, 2008; Dao và các tác giả, 2006; Khe và các tác giả, 2004; Le và các tác giả, 2009; Lim và các tác giả 2014; Nguyen Minh Thang, 2003; Nguyen Minh Thang & Popkin, 2004; Segall và các tác giả, 2002; Tran và các tác giả, 2017; Vu Duy Kien và các tác giả, 2016; Vu Duy Kien và các tác giả, 2017). Sau đổi mới (1986), chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường đã tạo ra phân tầng trong thu nhập và đưa đến bất bình đẳng trong chăm sóc y tế giữa các nhóm thu nhập.

Nghiên cứu về bình đẳng giữa các giai tầng xã hội (Vu Duy Kien và cộng sự, 2014; Đặng Kim Khánh Lý, 2018) cũng cho thấy có khác biệt giữa các giai tầng khác nhau trong chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe chiếm số lượng ít hơn. Tuy nhiên, vì Luận án này nghiên cứu xem xét chiều kích giới trong chăm sóc sức khỏe, cụ thể là liên quan đến việc nhận diện và điều trị bệnh tật nên chúng tôi sẽ thảo luận kỹ hơn về các nghiên cứu bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe. Ở chiều kích phân tích bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe, câu hỏi nghiên cứu chính là tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nam giới và nữ giới có khác nhau hay không và trong chừng mực thì việc lý giải cho sự khác biệt giới này cũng được đặt ra.

Tất nhiên, các 15 nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị chính sách về bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe (Nguyen Cuong, 2012; Rodgers và Menon, 2010; Teerawichitchainan, 2014; Nguyễn Thị Ngân Hoa 2010; Johansson và các tác giả, 2000; Long và các tác giả, 2001; Johansson & Winkvist, 2002; Thorson & Johansson, 2004; Go, 2002). Các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sử dụng số liệu từ các cuộc điều tra của quốc gia như Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam, Khảo sát y tế quốc gia Việt Nam, Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam, các điều tra của UNICEF và các điều tra của cá nhân các nhà nghiên cứu. Trước hết, nhóm các tác giả sử dụng số liệu Điều tra quốc gia đưa ra xu hướng chung của bất bình đẳng giới nhưng chưa lý giải lý do của bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe. Từ số liệu khảo sát của cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam qua các năm 2004, 2006, và 2008, với việc phân tích hồi qui đa biến đáng tin cậy, kết quả nghiên cứu Nguyen Cuong (2012) chỉ ra phụ nữ sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại trú và nội trú nhiều hơn nam giới.

Tác giả cho rằng sau khi các đặc điểm quan sát được kiểm soát, phụ nữ vẫn đến trung tâm chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn nam giới (tr. Cũng từ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008 với phân tích tương quan hai biến, Rodgers và Menon (2010) nghiên cứu về giới và tình trạng sức khỏe và việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cũng như các chiều kích khác như chiều kích kinh tế, chiều kích tuổi, giáo dục, và chiều kích dân tộc. Về chiều kích giới và tình trạng sức khỏe, các tác giả kết luận rằng phụ nữ trên 14 tuổi báo cáo bệnh nhiều hơn nam giới cả bệnh trong 4 tuần qua và bệnh trong 12 tháng qua (tr. Nữ giới báo cáo bệnh tật cao hơn nam giới cả ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị, bảy vùng miền ở Việt Nam, tất cả các dân tộc, năm nhóm thu nhập, và trình độ học vấn (từ 15-49 tuổi) (Bảng 4.

Về giới và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các tác giả cho rằng gần hai phần ba những người báo cáo bệnh tật trong năm qua đã đến 16 gặp một nhân viên chăm sóc sức khỏe hoặc trung tâm chăm sóc sức khỏe (tr. Các tác giả chỉ ra nhóm 15-59 tuổi thì nữ đến các dịch vụ y tế nhiều hơn nam, cả khu vực nông thôn và thành thị (Bảng 4. Việc lựa chọn các cơ sở y tế, thì cho thấy nam lựa chọn bệnh viện công nhiều hơn nữ, ngược lại nữ lựa chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn nam (Bảng 4. Tuy nhiên, trong khu vực thành thị, nam giới sử dụng bệnh viện cấp tỉnh nhiều hơn nữ giới; ngược lại, ở khu vực nông thôn, phụ nữ sử dụng trạm y tế nhiều hơn đàn ông (tr.

Phụ nữ thành thị có chi tiêu cao hơn cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với đàn ông thành thị, ngược lại phụ nữ nông thôn có chi phí chăm sóc sức khỏe thấp hơn nam giới nông thôn. Tuy nhiên, trong số các chi phí đó, nam giới ở cả thành thị và nông thôn được bảo hiểm y tế chi trả nhiều hơn nữ giới (tr. Mặc dù Nguyen Cuong (2012) đã sử dụng phương pháp phân tích hồi qui đa biến và Rodgers và Menon (2010) với phân tích tương quan hai biến số và không kiểm định đã kết luận bất bình đẳng giới trong sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, nhưng các tác giả chưa lý giải hoặc đưa ra các giả thuyết về sự bất bình đẳng giới. Số liệu định lượng chỉ đưa ra được xu hướng của bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe.

Tuy nhiên, đây là số liệu phân tích rất hữu ích cho các nghiên cứu về giới và sức khỏe. Các tác giả đưa ra các khuyến nghị chính sách. Nguyen Cuong (2012) đưa ra khuyến nghị về khuôn mẫu bất bình đẳng giới và sức khỏe ở Việt Nam (tr. Rodgers và Menon (2010) cho rằng chính phủ đã ưu tiên nhấn mạnh vào nhu cầu của phụ nữ và các thành viên dễ bị tổn thương trong dân số.

Mặc dù đối thoại chính sách về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, một số vùng trong nước thực tế đã chậm trễ trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được tài trợ công khai và rộng rãi (tr. Teerawichitchainan (2014) dựa vào dữ liệu Khảo sát Y tế Quốc gia Việt Nam năm 2001-02 để kiểm tra sự khác biệt giới trong hai chỉ số quan trọng về tình trạng sức khỏe của người già: (1) sức khỏe tự đánh giá và (2) tỷ lệ tăng huyết áp.000 hộ gia đình, 160.200 xã trên toàn quốc, giới hạn mẫu cho những người 60 tuổi trở lên (15.214 người), tác giả kết luận 17 rằng phụ nữ lớn tuổi tự đánh giá sức khỏe của họ tiêu cực hơn so với nam giới lớn tuổi, và không có sự khác biệt nào về bệnh huyết áp cao giữa đàn ông lớn tuổi và phụ nữ lớn tuổi khi họ tự báo cáo. Tuy nhiên, đàn ông lớn tuổi bệnh huyết áp cao nhiều hơn phụ nữ lớn tuổi khi đo huyết áp trực tiếp. Điều này cho thấy những người đàn ông lớn tuổi có xu hướng không nhận ra rằng họ bị huyết áp cao (tr.

Cũng như các tác giả Nguyen Cuong (2012), Rodgers và Menon (2010) không giải thích được lý do của bất bình đẳng nhưng Teerawichitchainan đã đưa ra giả thuyết cho sự khác biệt giới. Tác giả cho rằng "Phụ nữ Việt Nam cảm thấy kiệt sức hơn nam giới vì kỳ vọng của gia đình, cộng đồng, và xã hội đối với họ trong việc hoàn thành vai trò sản xuất kinh tế cũng như trách nhiệm trong gia đình lớn hơn nam giới. Điều này có lẽ đưa đến việc phụ nữ tự đánh giá tiêu cực về sức khỏe và hạnh phúc hơn nam giới" (tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ