Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới

Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng phân tích khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

178
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. Bối cảnh nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học

1.4. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4.1. Mục tiêu tổng quát

1.4.2. Mục tiêu cụ thể

1.4.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

1.6. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

1.7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1.8. KẾT CẤU LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

2.1.1. Khái niệm về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế

2.1.2. Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế

2.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2.1. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.2.2. Các lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.3. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.3.1. Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô

2.3.2. Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro tín dụng

2.3.3. Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro thanh khoản

2.4. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.4.1. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.4.2. Nghiên cứu thực nghiệm tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.5. THẢO LUẬN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1. Phương pháp Bayes

3.2.2. Tính ưu việt của phương pháp Bayes so với phương pháp tần suất

3.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.3.1. Quy trình nghiên cứu

3.3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

3.4. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.4.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.4.2. Kiểm định mô hình

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI

4.1.1. Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến

4.1.2. Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

4.1.3. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

4.1.4. Phân tích và thảo luận kết quả

4.2. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HẬU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI

4.2.1. Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến

4.2.2. Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

4.2.3. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

4.2.4. Phân tích và thảo luận kết quả

4.3. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.3.1. Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

4.3.2. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

4.3.3. So sánh chiều hướng tác động của phương pháp Bayes với phương pháp truyền thống

4.3.4. Thảo luận tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC KHẢ NĂNG SINH LỜI HỢP LÝ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI

5.1. GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC KHẢ NĂNG SINH LỜI HỢP LÝ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI

5.1.1. Đối với các ngân hàng thương mại

5.1.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

5.2. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã chịu tác động đáng kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007-2008. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Bayes và thuật toán Gibbs sampling để phân tích dữ liệu từ 30 ngân hàng giai đoạn 2007-2018. Kết quả cho thấy các yếu tố như quy mô ngân hàng, vốn ngân hàng, và dự phòng rủi ro tín dụng có tác động đồng nhất đến lợi nhuận ngân hàng trong cả giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng. Tuy nhiên, các yếu tố như tài sản thanh khoảnchi phí hoạt động lại có tác động khác biệt giữa hai giai đoạn.

1.1. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến lợi nhuận ngân hàng

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm gia tăng rủi ro tín dụngrủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng phải đối mặt với nợ xấu tăng cao và chi phí trả lãi lớn, dẫn đến lợi nhuận sụt giảm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù tăng trưởng kinh tếlạm phát có tác động đến khả năng sinh lời, nhưng chiều hướng tác động khác nhau giữa các chỉ tiêu ROAROE. Điều này phản ánh sự phức tạp trong việc quản lý tài chính ngân hàng trong bối cảnh khủng hoảng.

1.2. So sánh giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng

Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tốt hơn so với giai đoạn hậu khủng hoảng. Điều này có thể được giải thích bởi việc các ngân hàng đã thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả hơn trong giai đoạn khủng hoảng. Ngoài ra, khi so sánh với phương pháp GMM hệ thống, kết quả cũng cho thấy các ngân hàng đạt được lợi nhuận cao hơn trong giai đoạn khủng hoảng.

II. Chiến lược tài chính và quản lý rủi ro trong bối cảnh khủng hoảng

Để duy trì khả năng sinh lời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần áp dụng các chiến lược tài chínhquản lý rủi ro hiệu quả. Nghiên cứu đề xuất việc tăng cường quản lý vốn, đa dạng hóa đầu tư, và kiểm soát chi phí hoạt động. Đồng thời, các ngân hàng cần chú trọng đến việc giảm thiểu rủi ro tín dụngtăng cường thanh khoản để đảm bảo hoạt động ổn định.

2.1. Đa dạng hóa đầu tư và quản lý vốn

Việc đa dạng hóa đầu tư giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro từ các biến động của thị trường tài chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các ngân hàng có danh mục đầu tư đa dạng thường có khả năng sinh lời ổn định hơn trong giai đoạn khủng hoảng. Bên cạnh đó, quản lý vốn hiệu quả cũng là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng duy trì thanh khoảnlợi nhuận.

2.2. Kiểm soát chi phí và rủi ro tín dụng

Kiểm soát chi phí hoạt động là một trong những yếu tố then chốt giúp các ngân hàng duy trì lợi nhuận trong bối cảnh khủng hoảng. Nghiên cứu khuyến nghị các ngân hàng cần tối ưu hóa chi phí trả lãichi phí quản lý. Đồng thời, việc giảm thiểu rủi ro tín dụng thông qua việc tăng cường dự phòng rủi rokiểm soát chất lượng tín dụng cũng là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng duy trì khả năng sinh lời.

III. Khuyến nghị chính sách và thực tiễn

Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các khuyến nghị bao gồm việc tăng cường giám sát tài chính, cải thiện quản lý rủi ro, và hỗ trợ từ chính sách tiền tệ. Đồng thời, các ngân hàng cần chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt độngtăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

3.1. Giám sát tài chính và cải thiện quản lý rủi ro

Việc giám sát tài chính chặt chẽ từ Ngân hàng Nhà nước là yếu tố quan trọng giúp các ngân hàng duy trì khả năng sinh lời trong bối cảnh khủng hoảng. Nghiên cứu khuyến nghị các ngân hàng cần cải thiện quản lý rủi ro thông qua việc áp dụng các công cụ phân tích tài chính hiện đại và kiểm soát nội bộ chặt chẽ.

3.2. Hỗ trợ từ chính sách tiền tệ và nâng cao hiệu quả hoạt động

Chính sách tiền tệ linh hoạt từ Ngân hàng Nhà nước có thể giúp các ngân hàng giảm thiểu tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế. Nghiên cứu cũng khuyến nghị các ngân hàng cần nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc tối ưu hóa chiến lược tài chínhquản lý nguồn vốn. Điều này không chỉ giúp ngân hàng duy trì lợi nhuận mà còn đảm bảo sự ổn định trong dài hạn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2.1 Khái niệm về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Có nhiều quan điểm về khái niệm chu kỳ kinh tế. Kinh tế chính trị Marx-Lenin (2009) cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn giai đoạn là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Burns và Mitchell (1946) cho rằng chu kỳ kinh tế là một chu kỳ kinh doanh, bao gồm bốn giai đoạn lần lượt: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh.

Khi suy thoái kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế và dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Do đó, chính phủ các nước thường hoạch định những chính sách can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra. Vì thế, một số quan điểm mới mà tiêu biểu là Samuelson và Nordhaus (2007) cho rằng, chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba giai đoạn, lần lượt là giai đoạn suy thoái, giai đoạn phục hồi và giai đoạn hưng thịnh. Trong đó, giai đoạn suy thoái là sự suy giảm của GDP thực trong thời gian liên tục hai hoặc hơn hai quý (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý).

Gordon (1994) cho rằng chu kỳ kinh tế bao gồm những giai đoạn bành trướng xảy ra hầu như cùng một lúc trong nhiều hoạt động kinh tế, và tiếp theo đó lại có những giai đoạn khủng hoảng và những giai đoạn hồi phục được hòa nhập vào giai đoạn bành trướng của chu kỳ tiếp sau. Begg và cộng sự (2007) cho rằng chu kỳ kinh tế là sự biến động của tổng sản lượng trong ngắn hạn xung quanh đường xu thế của nó (đường xu thế của sản lượng là một tiến trình đều đặn của sản lượng dài hạn khi mà những biến động trong ngắn hạn đã được tính bình quân). Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ cho rằng suy thoái kinh tế là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng đến hơn một năm. Suy thoái kinh tế có thể liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận 14 doanh nghiệp và có thể gắn liền với lạm phát hoặc giảm phát.

Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế (NBER, 2010). Giai đoạn phục hồi là khi GDP bắt đầu tăng trở lại và tăng cho đến khi đạt bằng mức GDP trước suy thoái kinh tế. Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tiếp kể từ điểm đáy. Điểm ngoặt giữa hai giai đoạn suy thoái và giai đoạn phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).

Giai đoạn hưng thịnh là khi GDP tăng lớn hơn mức GDP đạt lúc trước khi suy thoái xảy ra thì nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh và giai đoạn hưng thịnh kết thúc bằng sự bắt đầu giai đoạn suy thoái mới. Điểm ngoặt từ giai đoạn hưng thịnh sang giai đoạn suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).2 Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Lý thuyết chu kỳ kinh tế được nghiên cứu vào đầu thế kỷ 19, với 2 xu hướng chính. Xu hướng thứ nhất, theo quan điểm kinh tế chính trị của Marx (1894), nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và phương thức chiếm hữu tư nhân mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không thể tránh khỏi. Tư bản là giá trị tự gia tăng mà xu hướng mở rộng bành trướng là bản chất cơ bản của nó.

Mục tiêu của nhà tư bản là tăng giá trị vốn, chứ không phải tiêu dùng. Nguyên nhân chính này làm nảy sinh các mâu thuẫn khác giữa tư bản và lao động, sản xuất và tiêu dùng, sự tổ chức sản xuất bài bản bên trong xí nghiệp riêng lẻ và tính vô chính phủ của nền sản xuất. Xu hướng thứ hai, với đại diện là các nhà kinh tế học Sismondi, Rodbertus, Malthus, là những người đầu tiên công nhận khả năng của cuộc khủng hoảng toàn diện – khủng hoảng sản xuất thừa trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, họ đã đặt vấn đề về các nguyên nhân xuất hiện của khủng hoảng kinh tế.

Sismondi (1819) cho rằng nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế nằm trong mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, ông gần như hiểu được tính quy luật khách quan của khủng hoảng kinh tế, đó là hiện tượng thường xuyên lập lại. Tính không hoàn thiện của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như việc các doanh nhân đưa ra những quyết định sản xuất chỉ chủ yếu dựa trên giá và chi phí mà 15 không biết về các hành động của nhau. Kết quả là lượng cung được xác định bởi lượng vốn, chứ không phải lượng cầu.

Dẫn đến khả năng sản xuất thừa. Theo Malthus (1820), nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là một phần sản phẩm tương ứng về giá trị với lợi nhuận không tìm thấy đủ cầu trên thị trường. Luận điểm này giống lý thuyết cầu hiệu quả của Keynes sau này. Nhưng theo ông, khủng hoảng kinh tế chỉ là hiện tượng tạm thời.

Rodbertus (1850) nghiên cứu vấn đề phân phối, nhận định rằng khủng hoảng kinh tế xuất phát từ xu hướng thiểu dùng (tiêu dùng không đủ) của giai cấp công nhân do bởi tiền lương tăng chậm hơn cung hàng hóa. Sang thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã thúc đẩy khoa học kinh tế mở rộng và đi sâu nghiên cứu chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế. Theo trường phái Keynes (1936), xuất phát từ sự tồn tại của sự không chắc chắn không thể suy giảm trong một nền kinh tế sử dụng tiền tệ, kết quả là nền kinh tế có những giai đoạn tăng trưởng nhanh và suy thoái, sau đó là khủng hoảng. Trong giai đoạn tăng trưởng chậm, các doanh nghiệp thường tỏ ra bi quan, và trong thời kỳ bùng nổ, họ lại quá lạc quan.

Khi không tin rằng hoạt động đầu tư của mình sẽ có lợi thì doanh nghiệp giữ tiền mặt và trả bớt nợ (chứ không tăng đầu tư trong dài hạn và giúp nền kinh tế tự điều chỉnh như trong quan điểm cổ điển). Do đó tổng cầu sẽ dịch chuyển giữa đỉnh và đáy của chu kỳ kinh tế chủ yếu tùy vào tính bầy đàn của nhà đầu tư. Một khi cầu bắt đầu đi xa khỏi quỹ đạo toàn dụng thì nền kinh tế có thể lao xuống dốc theo hình trôn ốc, và rất khó để đưa nền kinh tế trở về hướng đi toàn dụng nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Do đó, một trong những hàm ý của quan điểm này là nền kinh tế không tự điều tiết, và chính phủ phải hành động để kích cầu khi nền kinh tế suy yếu, và làm nguội nền kinh tế khi quá nóng.

Nếu không đủ dòng tiền chảy vào nền kinh tế để giúp cho quá trình tái tài trợ thì tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài và kết quả là khủng hoảng kinh tế xảy ra. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, việc thắt chặt chi tiêu của chính phủ, tâm lý ngại cho vay của các ngân hàng càng làm cho khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn. Do vậy, chính phủ cần đẩy mạnh chi tiêu nhằm tăng tổng cầu trong thời kỳ khủng hoảng và thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ tăng trưởng nóng. Đối với thị trường tài chính, trong giai đoạn khủng hoảng, ngân hàng trung ương cần hành động nhanh chóng nhằm tạo thanh khoản cho thị trường, ngăn chặn tình trạng găm giữ tiền mặt, 16 khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế.

Quan điểm của Keynes về lãi suất cho rằng, lãi suất không nên giảm xuống thấp hơn một mức nào đó vì khi lãi suất quá thấp, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn thay vì mua trái phiếu, làm cho đầu tư giảm trong khi tình trạng tiết kiệm trở nên quá mức, làm giảm tổng cầu. Bên cạnh đó, Keynes còn cho rằng, lãi suất giảm không hẳn sẽ dẫn đến tăng đầu tư. Lãi suất giảm, nhưng tiết kiệm chưa chắc đã giảm theo do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của giảm lãi suất triệt tiêu lẫn nhau. Và khi tiết kiệm không giảm thì đầu tư không tăng.

Đầu tư mang tính chất dài hạn nên không vì lãi suất giảm trong ngắn hạn mà đầu tư sẽ tăng lên. Tiết kiệm quá cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế do hộ gia đình giảm tiêu dùng, doanh nghiệp không đầu tư để sản xuất nhiều hàng hóa hơn do lo ngại không đủ cầu để tiêu thụ hàng hóa mà họ sản xuất ra và không chắc chắn về triển vọng của nền kinh tế. Trường phái tân cổ điển đồng ý với Keynes rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết trong ngắn hạn mà cần có sự can thiệp của chính phủ, nhưng lại bác bỏ quan điểm của Keynes về sự không chắc chắn không thể suy giảm. Họ cho rằng thông tin là tốn kém, người lao động sẽ không chấp nhận một mức cắt giảm lương danh nghĩa kể cả khi mức giá chung đang giảm.

Theo trường phái tân cổ điển, nguyên nhân của sự thu hẹp quy mô đầu tư của các nhà đầu tư cũng như sự không sẵn sàng tiêu dùng của hộ gia đình là vì họ dự đoán thuế sẽ cao hơn trong tương lai để bù đắp thâm hụt ngân sách ngày càng lớn của chính phủ. Bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ nhằm thúc đẩy việc làm trong suy thoái đều sẽ dẫn đến lạm phát mà không tăng được sản lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu" phân tích sâu về tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Nó cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng như chính sách quản lý, rủi ro tín dụng, và sự thích ứng của ngân hàng trong bối cảnh kinh tế bất ổn. Đọc tài liệu này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về cách các ngân hàng duy trì lợi nhuận và đối phó với thách thức trong thời kỳ khủng hoảng.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng, bạn có thể tham khảo thêm Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, tài liệu này tập trung vào các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý của ngân hàng nhà nước đối với rủi ro thanh khoản sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về quản lý rủi ro thanh khoản, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh khủng hoảng. Cuối cùng, Luận văn tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng cung cấp góc nhìn về tăng trưởng tín dụng, một yếu tố then chốt trong khả năng sinh lời của ngân hàng.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến hoạt động ngân hàng, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.