Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2.1 Khái niệm về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Có nhiều quan điểm về khái niệm chu kỳ kinh tế. Kinh tế chính trị Marx-Lenin (2009) cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn giai đoạn là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Burns và Mitchell (1946) cho rằng chu kỳ kinh tế là một chu kỳ kinh doanh, bao gồm bốn giai đoạn lần lượt: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh.
Khi suy thoái kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế và dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Do đó, chính phủ các nước thường hoạch định những chính sách can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra. Vì thế, một số quan điểm mới mà tiêu biểu là Samuelson và Nordhaus (2007) cho rằng, chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba giai đoạn, lần lượt là giai đoạn suy thoái, giai đoạn phục hồi và giai đoạn hưng thịnh. Trong đó, giai đoạn suy thoái là sự suy giảm của GDP thực trong thời gian liên tục hai hoặc hơn hai quý (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý).
Gordon (1994) cho rằng chu kỳ kinh tế bao gồm những giai đoạn bành trướng xảy ra hầu như cùng một lúc trong nhiều hoạt động kinh tế, và tiếp theo đó lại có những giai đoạn khủng hoảng và những giai đoạn hồi phục được hòa nhập vào giai đoạn bành trướng của chu kỳ tiếp sau. Begg và cộng sự (2007) cho rằng chu kỳ kinh tế là sự biến động của tổng sản lượng trong ngắn hạn xung quanh đường xu thế của nó (đường xu thế của sản lượng là một tiến trình đều đặn của sản lượng dài hạn khi mà những biến động trong ngắn hạn đã được tính bình quân). Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ cho rằng suy thoái kinh tế là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng đến hơn một năm. Suy thoái kinh tế có thể liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận 14 doanh nghiệp và có thể gắn liền với lạm phát hoặc giảm phát.
Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế (NBER, 2010). Giai đoạn phục hồi là khi GDP bắt đầu tăng trở lại và tăng cho đến khi đạt bằng mức GDP trước suy thoái kinh tế. Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tiếp kể từ điểm đáy. Điểm ngoặt giữa hai giai đoạn suy thoái và giai đoạn phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).
Giai đoạn hưng thịnh là khi GDP tăng lớn hơn mức GDP đạt lúc trước khi suy thoái xảy ra thì nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh và giai đoạn hưng thịnh kết thúc bằng sự bắt đầu giai đoạn suy thoái mới. Điểm ngoặt từ giai đoạn hưng thịnh sang giai đoạn suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).2 Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Lý thuyết chu kỳ kinh tế được nghiên cứu vào đầu thế kỷ 19, với 2 xu hướng chính. Xu hướng thứ nhất, theo quan điểm kinh tế chính trị của Marx (1894), nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và phương thức chiếm hữu tư nhân mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không thể tránh khỏi. Tư bản là giá trị tự gia tăng mà xu hướng mở rộng bành trướng là bản chất cơ bản của nó.
Mục tiêu của nhà tư bản là tăng giá trị vốn, chứ không phải tiêu dùng. Nguyên nhân chính này làm nảy sinh các mâu thuẫn khác giữa tư bản và lao động, sản xuất và tiêu dùng, sự tổ chức sản xuất bài bản bên trong xí nghiệp riêng lẻ và tính vô chính phủ của nền sản xuất. Xu hướng thứ hai, với đại diện là các nhà kinh tế học Sismondi, Rodbertus, Malthus, là những người đầu tiên công nhận khả năng của cuộc khủng hoảng toàn diện – khủng hoảng sản xuất thừa trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, họ đã đặt vấn đề về các nguyên nhân xuất hiện của khủng hoảng kinh tế.
Sismondi (1819) cho rằng nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế nằm trong mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, ông gần như hiểu được tính quy luật khách quan của khủng hoảng kinh tế, đó là hiện tượng thường xuyên lập lại. Tính không hoàn thiện của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như việc các doanh nhân đưa ra những quyết định sản xuất chỉ chủ yếu dựa trên giá và chi phí mà 15 không biết về các hành động của nhau. Kết quả là lượng cung được xác định bởi lượng vốn, chứ không phải lượng cầu.
Dẫn đến khả năng sản xuất thừa. Theo Malthus (1820), nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là một phần sản phẩm tương ứng về giá trị với lợi nhuận không tìm thấy đủ cầu trên thị trường. Luận điểm này giống lý thuyết cầu hiệu quả của Keynes sau này. Nhưng theo ông, khủng hoảng kinh tế chỉ là hiện tượng tạm thời.
Rodbertus (1850) nghiên cứu vấn đề phân phối, nhận định rằng khủng hoảng kinh tế xuất phát từ xu hướng thiểu dùng (tiêu dùng không đủ) của giai cấp công nhân do bởi tiền lương tăng chậm hơn cung hàng hóa. Sang thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã thúc đẩy khoa học kinh tế mở rộng và đi sâu nghiên cứu chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế. Theo trường phái Keynes (1936), xuất phát từ sự tồn tại của sự không chắc chắn không thể suy giảm trong một nền kinh tế sử dụng tiền tệ, kết quả là nền kinh tế có những giai đoạn tăng trưởng nhanh và suy thoái, sau đó là khủng hoảng. Trong giai đoạn tăng trưởng chậm, các doanh nghiệp thường tỏ ra bi quan, và trong thời kỳ bùng nổ, họ lại quá lạc quan.
Khi không tin rằng hoạt động đầu tư của mình sẽ có lợi thì doanh nghiệp giữ tiền mặt và trả bớt nợ (chứ không tăng đầu tư trong dài hạn và giúp nền kinh tế tự điều chỉnh như trong quan điểm cổ điển). Do đó tổng cầu sẽ dịch chuyển giữa đỉnh và đáy của chu kỳ kinh tế chủ yếu tùy vào tính bầy đàn của nhà đầu tư. Một khi cầu bắt đầu đi xa khỏi quỹ đạo toàn dụng thì nền kinh tế có thể lao xuống dốc theo hình trôn ốc, và rất khó để đưa nền kinh tế trở về hướng đi toàn dụng nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Do đó, một trong những hàm ý của quan điểm này là nền kinh tế không tự điều tiết, và chính phủ phải hành động để kích cầu khi nền kinh tế suy yếu, và làm nguội nền kinh tế khi quá nóng.
Nếu không đủ dòng tiền chảy vào nền kinh tế để giúp cho quá trình tái tài trợ thì tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài và kết quả là khủng hoảng kinh tế xảy ra. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, việc thắt chặt chi tiêu của chính phủ, tâm lý ngại cho vay của các ngân hàng càng làm cho khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn. Do vậy, chính phủ cần đẩy mạnh chi tiêu nhằm tăng tổng cầu trong thời kỳ khủng hoảng và thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ tăng trưởng nóng. Đối với thị trường tài chính, trong giai đoạn khủng hoảng, ngân hàng trung ương cần hành động nhanh chóng nhằm tạo thanh khoản cho thị trường, ngăn chặn tình trạng găm giữ tiền mặt, 16 khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế.
Quan điểm của Keynes về lãi suất cho rằng, lãi suất không nên giảm xuống thấp hơn một mức nào đó vì khi lãi suất quá thấp, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn thay vì mua trái phiếu, làm cho đầu tư giảm trong khi tình trạng tiết kiệm trở nên quá mức, làm giảm tổng cầu. Bên cạnh đó, Keynes còn cho rằng, lãi suất giảm không hẳn sẽ dẫn đến tăng đầu tư. Lãi suất giảm, nhưng tiết kiệm chưa chắc đã giảm theo do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của giảm lãi suất triệt tiêu lẫn nhau. Và khi tiết kiệm không giảm thì đầu tư không tăng.
Đầu tư mang tính chất dài hạn nên không vì lãi suất giảm trong ngắn hạn mà đầu tư sẽ tăng lên. Tiết kiệm quá cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế do hộ gia đình giảm tiêu dùng, doanh nghiệp không đầu tư để sản xuất nhiều hàng hóa hơn do lo ngại không đủ cầu để tiêu thụ hàng hóa mà họ sản xuất ra và không chắc chắn về triển vọng của nền kinh tế. Trường phái tân cổ điển đồng ý với Keynes rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết trong ngắn hạn mà cần có sự can thiệp của chính phủ, nhưng lại bác bỏ quan điểm của Keynes về sự không chắc chắn không thể suy giảm. Họ cho rằng thông tin là tốn kém, người lao động sẽ không chấp nhận một mức cắt giảm lương danh nghĩa kể cả khi mức giá chung đang giảm.
Theo trường phái tân cổ điển, nguyên nhân của sự thu hẹp quy mô đầu tư của các nhà đầu tư cũng như sự không sẵn sàng tiêu dùng của hộ gia đình là vì họ dự đoán thuế sẽ cao hơn trong tương lai để bù đắp thâm hụt ngân sách ngày càng lớn của chính phủ. Bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ nhằm thúc đẩy việc làm trong suy thoái đều sẽ dẫn đến lạm phát mà không tăng được sản lượng.