Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT DÙNG CHO BÀI TOÁN ĐỘ TIN CẬY CỌC KHOAN NHỒI 1.1 Lý thuyết độ tin cậy 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Reliability of bored pile foundations considering bias in failure criteria ( L. Zhang và các cộng sự, 2005). Cọc nhồi được xem là phá hủy khi độ lún bằng độ lún được quy định trong mỗi tiêu chuẩn khác nhau. Những tiêu chuẩn phá hủy cọc, những hệ số tải và kháng tải đưa vào tính toán độ cậy thì đều ảnh hưởng đáng kể.
Trong phân tích độ tin cậy của cọc, một hàm trạng thái giới hạn tổng quát như sau: Z R Q (1.1) R: Kháng tải. Cả R và Q được xem là những biến ngẫu nhiên mô tả bằng hàm mật độ xác xuất Xác xuất phá hủy được tính bằng: Pf P( Z 0) (1.3) là làm hàm tích lũy chuẩn normal. Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi - Phương trình thể hiện cho tiêu chuẩn thiết kế là: Rn i Qi (2.4) - Độ tin cậy của cọc có thể đánh giá bằng phương pháp FOSM (Thoft- Christensen và Barker, 1982). Nếu cả kháng tải và tải tác dụng là biến ngẫu nhiên lognormal và tải tác dụng chỉ là tĩnh tải và hoạt tải, chỉ số độ tin cậy đối với phương trình (2.4) có thể tính bằng: Q 1 COVQD COVQL 2 2 R D D L 2 ln QL 1 COV R Q QD D QL Q L (1.5) ln 1 COVR2 1 COVQD2 COVQL2 COVQD : Hệ số biến thiên của tĩnh tải.
COVQL : Hệ số biến thiên của hoạt tải. D : Hệ số tĩnh tải. L : Hệ số hoạt tải. QD : Hệ số ảnh hưởng tĩnh tải.
QL : Hệ số ảnh hưởng hoạt tải. Khi kết hợp tiêu chuẩn phá hủy với những hệ số tải và kháng tải tính toán độ tin cậy cọc cho những tiêu chuẩn khác nhau, cho thấy sự kết hợp đó ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tin cậy của mỗi tiêu chuẩn, từ đó có thể chọn phương pháp đánh giá mức độ tin cậy tốt nhất khi đưa hai yếu tố trên vào xem xét. Tác giả cũng khuyến cáo khi so sánh mức độ tin cậy của hai tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá độ tin cậy thì phải xem xét sự khác nhau về tiêu chuẩn phá hủy và những hệ số tải và kháng tải sử dụng của hai tiêu chuẩn đó. Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi Reliability analysis on vertical bearing capacity of bored pile determined by CPT test (Chun-feng Zhao và các cộng sự, 2007).
Tác giả sử dụng 46 kết quả CPT của cọc khoan nhồi có đường kính 0.8m của 17 công trình ở Thượng hải, Trung quốc làm bộ dữ liệu thống kê để phân tích độ tin cậy. Công thức đánh giá độ tin cậy khả năng chịu tải của cọc khoan nhồi bằng sức kháng lún đặc trưng của CPT như sau: n Qu fiU i li ab Psb Ap (1.6) i 1 Qu : Khả năng chịu tải của một cọc đơn (kN). fi : Giá trị tiêu chuẩn của ma sát hông cuối cùng đối với lớp đất thư i (kPa). U i : Chu vi cọc (m).
li : Chiều dày lớp đất thứ i (m). ab : Hệ số hiệu chỉnh sức kháng mũi. Psb : Trung bình sức kháng lún đặc trưng của CPT gần mũi cọc (kPa). Ap : Diện tích tiết diện ngang mũi cọc (m2).
n: Số lớp đất cọc xuyên qua. - Nghiên cứu cho thấy chỉ số độ tin cậy của cọc có đường kính lớn thì lớn hơn cọc có đường kính nhỏ, hệ số biến thiên của chỉ số độ tin cậy cọc có đường kính lớn thì nhỏ hơn cọc có đường kính nhỏ. Reliability – based code calibration for axial ultimate bearing capacities of single bored piles in Taipei Basin (J. Ching và các cộng sự, 2009).
Tác giả dùng 57 kết quả thử tải cọc làm bộ dữ liệu nhưng chỉ có 8 cọc 11 Chương 1. Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi đầy đủ thông tin đường cong tải-chuyển vị. Những chỉ số và hệ số của mỗi lớp cần thiết để dự báo khả năng chịu tải của cọc như giá trị SPT, trọng lượng riêng, cường độ ứng suất không thoát nước, góc ma sát của mỗi lớp cát và đá sỏi, mực nước ngầm, khả năng chịu tải cuối cùng của lớp sa thạch. - Dự báo khả năng chịu tải của cọc có thể dựa trên công thức sau: R Qs Qb f s As qb Ab (1.7) R : Khả năng chịu tải tới hạn của cọc.
Qs : Ma sát hông. Qb : Sức kháng mũi. f s : Ứng suất kháng hông. As : Diện tích bề mặt cọc.
qb : Ứng suất chịu tải mũi cọc. Ab : Diện tích mặt cắt ngang đầu cọc. Dự báo khả năng chịu tải cọc bằng hai mô hình là mô hình SPT-N (SPT-N model) và mô hình tĩnh (Static model). Hai mô hình được so sánh với khả năng thực tế của Davisson, mô hình SPT-N được đánh giá tốt hơn vì kết quả dự báo gần kề với những điểm là các cọc có đầy đủ thông tin đường cong tải- chuyển vị.
Phương pháp xác xuất được đề xuất để xữ lý những cọc không đầy đủ thông tin và những điều không chắc chắn về khả năng chịu tải trong lớp sa thạch. Cuối cùng kiểm chứng mối liên hệ giữa những hệ số kháng tải và xác xuất phá hủy mục tiêu cho cả hai mô hình SPT-N và mô hình tĩnh. Khi đưa những thông tin không đầy đủ của cọc vào xem xét thì hệ số kháng tải cọc thay đổi đáng kể. Trong bộ dữ liệu có những trường hợp không biết mực nước ngầm thì lấy bằng 1.5m, nhưng cho thấy mực nước ngầm cũng không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích.
Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi Reliability based design of pile foundations considering both parameter and model uncertainties (Jie Zhang và các cộng sự, 2009). Trong nghiên cứu tác giả đánh giá riêng biệt tham số không chắc chắn và mô hình hình không chắc chắn vào dự báo khả năng chịu tải của cọc khoan nhồi. Mô hình sử dụng dự báo tổng khả năng chịu tải của cọc khoan nhồi đường kính lớn theo công thức: n g Di li N i 9.8) i 1 g : Mô hình khả năng chịu tải cọc. : Các tham số đầu vào không chắc chắn.
Nn : Chỉ số SPT-N của lớp đất n. Di : Đường kính cọc trong lớp đất thứ i. li : Chiều dài cọc trong lớp đất thứ i. N i : Trung bình SPT của lớp đất.
Trong phương trình (2.8), các giá trị của N i và Nn thì thường khó xác định chính xác, vì vậy những tham số đầu vào mô hình không chắc chắn có thể kí hiệu N 1 , N 2 ,. Bộ dữ liệu gồm thông tin kết quả thử tải của 17 cọc khoan nhồi sử dụng đưa vào phân tích được trích dẫn từ Chu (2007). Tham số không chắc chắn thì không thể giải thích sự không bằng nhau giữa khả năng chịu tải dự báo và khả năng chịu tải đo được. Các biên của khả năng chịu tải dự báo của cọc được tính toán bằng mô phỏng Monte Carlo chỉ xét không chắc chắn trong .
Trong mô hình không chắc chắn dự báo khả năng chịu tải cọc, một hệ số liên hệ mô hình được áp dụng trong mô hình dự báo như sau: y g (1. Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi Y: Khả năng chịu tải thực của cọc. - Mô hình không chắc chắn được thể hiên dựa trên phương pháp Bayesian, giải thích nếu giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của mô hình nhỏ thì mô hình có ít những điều không chắc chắn và ngược lại. Sử dụng những hệ số tải cụ thể trong tiêu chuẩn kết cấu, những hệ số kháng tải cho thiết kế cọc được xác định bằng phương pháp điểm thiết kế (Design Point Method)(e., Ang và Tang 1984).
Efficient reliability – based design of drilled shafts in sand considering spatial variability (Zhe Luo và C. Đánh giá độ tin cậy và xác xuất phá hủy theo khả năng chịu tải cho phép và cực hạn của cọc. Một ví dụ minh họa thiết kế dựa trên độ tin cậy của cọc khoan nhồi dưới tải chịu nén trong cát rời. Hàm trạng thái giới hạn cuối cùng khả năng chịu tải được xác định theo phương trình: QULS Qside Qtip W (1.10) Qside : Sức kháng thân cọc.
Qtip : Sức kháng mũi cọc. - Trong nghiên cứu này, biến thiên không gian trong đất được xem xét khi thiết kế dựa trên độ tin cậy của cọc khoan nhồi thì đươc kiểm chứng bằng phương pháp trung bình không gian của Vanmarcke (1977). Hệ số giảm biến lượng đối với trung bình không gian có thể có thể thu được theo công thức Vanmarcke (1983). Hệ số tương quan giữa hai trung bình không gian có thể tính theo công thức của Vanmarcke (1977).
- Biến được xem xét để đánh giá độ tin cậy là biến thiên không gian trong đất theo chiều sâu của góc ma sát trong ký hiệu ' , tip đối với sức kháng ' mũi và side ' đối với sức kháng thân cọc như là một biến phân bố lognormal và dùng phương pháp FROM để đánh giá độ tin cậy. Tổng quan các cơ sở lý thuyết dùng cho bài toán độ tin cậy cọc khoan nhồi Probabilistic analysis of Malaysian bored pile (Sadaf Qasim và Indra Harahap, 2012). Lấy thông tin bốn vị trí cọc ở thủ đô Kuala Lumper làm bộ dữ liệu thống kê. Hai phương pháp để đánh giá độ tin cậy là FROM và FOSM.
Chỉ số tin cậy cần thông tin của nhiều biến khác như số liệu thống kê tĩnh tải (COVQD), số liệu thống kê hoạt tải (COVQL), tỷ số giữa tĩnh tải và hoạt tải (QD/QL). Hàm trạng thái giới hạn có thể mô tả tổng quát như sau: G R Q (1.11) R: Kháng tải. - (Low và Tang 2007) đã hiệu chỉnh phương pháp của mình từ năm 2004. Xét sự tương quan giữa các biến không phải là phân bố normal.
Không sử dụng tính toán giá trị trung bình và độ lệch chuẩn tương đương normal (kí hiệu N và ) trong phương pháp 2007.