Tổng quan nghiên cứu

Chấn thương sọ não là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và tàn tật vĩnh viễn trong các chấn thương ngoại khoa. Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong do chấn thương sọ não chiếm khoảng 18,5%. Trong các tổn thương thực thể nội sọ cấp tính, máu tụ ngoài màng cứng chiếm 2% tổng số ca chấn thương sọ não nhưng gây ra tới 15% tổng số trường hợp tử vong. Tỷ lệ tử vong của máu tụ dưới màng cứng cấp tính thậm chí dao động ở mức báo động từ 14% đến 33,5%, trong khi máu tụ trong não cấp tính có tỷ lệ tử vong xấp xỉ 9%.

Tình trạng khối máu tụ tiến triển gây tăng áp lực nội sọ cấp tính, dẫn tới thiếu máu não cục bộ và đe dọa trực tiếp mạng sống người bệnh do tụt kẹt thân não. Việc chẩn đoán sớm và xử trí phẫu thuật mở nắp sọ giải phóng chèn ép não kết hợp hồi sức ngoại khoa là yếu tố sống còn. Nghiên cứu này được thực hiện với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não của bệnh nhân máu tụ nội sọ cấp tính do chấn thương có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị máu tụ nội sọ cấp tính do chấn thương tại cơ sở điều trị trong giai đoạn từ tháng 01/2020 đến tháng 04/2022.

Công trình được triển khai trên 90 bệnh nhân thực tế tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp bộ chỉ số dịch tễ học và lâm sàng chuẩn xác, xác định giá trị của thang điểm tri giác Glasgow cùng các tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính. Từ đó, nghiên cứu góp phần hoàn thiện chiến lược phẫu thuật cấp cứu ngoại thần kinh, nâng cao tỷ lệ cứu sống người bệnh và hạ thấp tối đa tỷ lệ di chứng thần kinh nặng nề sau can thiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hai nền tảng lý thuyết sinh lý bệnh kinh điển trong phẫu thuật thần kinh:

Học thuyết Monro - Kellie: Hộp sọ ở người trưởng thành được coi như một khoang kín có thể tích cố định không giãn nở. Thể tích bên trong bao gồm ba thành phần chính: nhu mô não chiếm 80%, dịch não tủy chiếm 10% và máu nội sọ chiếm 10%. Mối quan hệ giữa thể tích các thành phần và áp lực nội sọ tuân theo đường cong đàn hồi nội sọ. Khi một khối máu tụ cấp tính xuất hiện, ở giai đoạn đầu cơ thể bù trừ bằng cách đẩy dịch não tủy xuống khoang tủy sống và giảm thể tích máu tĩnh mạch. Khi khả năng bù trừ cạn kiệt, áp lực nội sọ sẽ tăng vọt theo cấp số nhân từ mức bình thường 7 - 15 mmHg vượt ngưỡng nguy kịch 20 - 25 mmHg, gây sụt giảm tưới máu não nghiêm trọng.

Mô hình tưới máu não của Miller và Langfitt: Áp lực tưới máu não được xác định bằng công thức áp lực tưới máu não bằng huyết áp động mạch trung bình trừ đi áp lực nội sọ. Hiệp hội Chấn thương sọ não quốc tế khuyến cáo áp lực tưới máu não phải được duy trì liên tục trên 70 mmHg để bảo vệ nhu mô não không bị nhồi máu thứ phát.

Các khái niệm chính yếu trong nghiên cứu bao gồm:

  • Máu tụ ngoài màng cứng cấp tính: Khối tụ máu hình thấu kính hai mặt lồi nằm giữa bản trong xương sọ và màng cứng, chủ yếu do rách động mạch màng não giữa hoặc đường vỡ xương sọ.
  • Máu tụ dưới màng cứng cấp tính: Vùng tăng tỷ trọng hình liềm nằm giữa màng cứng và màng nhện, thường phát sinh do đứt các tĩnh mạch cầu nối hoặc tổn thương dập rách vỏ não.
  • Máu tụ trong não: Khối máu tụ khu trú trong nhu mô não kèm theo vùng phù não giảm tỷ trọng xung quanh.
  • Thang điểm hôn mê Glasgow: Thang đo đánh giá tri giác từ 3 đến 15 điểm dựa trên ba phản ứng mở mắt, lời nói và vận động.
  • Thang điểm kết quả hồi phục Glasgow: Thang điểm phân loại phục hồi từ 1 điểm tương ứng tử vong đến 5 điểm tương ứng phục hồi hoàn toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập trực tiếp tại Khoa Ngoại Thần kinh - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong mốc thời gian từ tháng 01/2020 đến hết tháng 04/2022. Tiến trình nghiên cứu gồm hai giai đoạn: giai đoạn hồi cứu thu thập 50 hồ sơ bệnh án từ tháng 01/2020 đến tháng 07/2021 và giai đoạn tiến cứu theo dõi trực tiếp 40 bệnh nhân từ tháng 08/2021 đến tháng 04/2022.

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả lâm sàng với thiết kế cắt ngang.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu toàn bộ gồm 90 bệnh nhân. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu nhận toàn bộ bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn: được chẩn đoán máu tụ ngoài màng cứng, dưới màng cứng hoặc trong não cấp tính với thời gian chấn thương dưới 3 ngày, có chỉ định phẫu thuật giải phóng chèn ép não, đầy đủ hồ sơ bệnh án và phim chụp cắt lớp vi tính. Nghiên cứu loại trừ các bệnh nhân chấn thương sọ não kèm theo đa chấn thương tạng nặng ngoài sọ hoặc bệnh nhân đã can thiệp mổ ở tuyến trước.

Phương pháp phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS phiên bản 20.0. Tác giả sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và thống kê suy luận thông qua kiểm định Chi-square và kiểm định Fisher's exact test. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này là nhằm đánh giá chính xác mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các biến số lâm sàng độc lập (như điểm Glasgow, phản xạ đồng tử) và biến số hình ảnh học (mức di lệch đường giữa, độ xóa bể đáy) với kết quả sống chết của bệnh nhân, chấp nhận khoảng tin cậy 95% với ngưỡng xác suất p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 90 ca bệnh mang lại bốn phát hiện then chốt:

Thứ nhất, bệnh nhân chủ yếu là nam giới trong độ tuổi lao động với nguyên nhân chính do giao thông. Nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo 85,6% với 77 bệnh nhân, cao gấp 6 lần nữ giới (14,4% với 13 bệnh nhân). Độ tuổi trung bình của mẫu là 43,57 tuổi; trong đó nhóm tuổi 16 - 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,9% (44 bệnh nhân), tiếp đến là nhóm 41 - 60 tuổi chiếm 33,3% (30 bệnh nhân) và trên 60 tuổi chiếm 17,8% (16 bệnh nhân). Tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu chiếm 56,7% (51 ca), kế tiếp là tai nạn sinh hoạt 20,0% (18 ca) và tai nạn lao động 18,9% (17 ca).

Thứ hai, đặc điểm lâm sàng tri giác và triệu chứng thần kinh khu trú trước mổ phân hóa đa dạng. Đánh giá tri giác theo thang điểm Glasgow ghi nhận nhóm bệnh nhân có điểm Glasgow từ 13 - 15 điểm chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 43,3% (39 ca), nhóm từ 9 - 12 điểm chiếm 33,3% (30 ca) và nhóm hôn mê nặng từ 3 - 8 điểm chiếm 23,3% (21 ca). Về triệu chứng đồng tử, có 53,3% bệnh nhân (48 ca) đồng tử hai bên đều và còn phản xạ ánh sáng; 35,6% bệnh nhân (32 ca) có đồng tử một bên giãn kèm mất phản xạ ánh sáng; và 11,1% bệnh nhân (10 ca) rơi vào tình trạng giãn đồng tử cả hai bên mất phản xạ ánh sáng. Dấu hiệu liệt nửa người gặp ở 28,9% (26 ca), khoảng tỉnh xuất hiện ở 13,3% (12 ca) và rối loạn thần kinh thực vật chiếm 14,4% (13 ca).

Thứ ba, sự phân bố thương tổn giải phẫu trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não. Tổn thương đơn thuần chiếm 71,1% (64 ca), bao gồm máu tụ dưới màng cứng 27,8% (25 ca), máu tụ ngoài màng cứng 25,5% (23 ca) và máu tụ trong não 17,8% (16 ca). Tổn thương phối hợp nhiều loại máu tụ chiếm 28,9% (26 ca). Vị trí máu tụ ngoài màng cứng hay gặp nhất ở vùng thái dương với 37,0% và trán với 22,2%. Máu tụ dưới màng cứng xuất hiện ở bán cầu phải chiếm 53,1% và bán cầu trái chiếm 46,9%.

Thứ tư, mức độ đè đẩy đường giữa và tình trạng bể quanh não giữa báo động nguy cơ thoát vị não. Tỷ lệ bệnh nhân có đường giữa di lệch trên 10 mm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 38,9% (35 ca), mức di lệch từ 5 đến 10 mm chiếm 30,0% (27 ca) và mức di lệch dưới 5 mm chiếm 31,1% (28 ca). Khảo sát bể đáy ghi nhận 46,7% bệnh nhân (42 ca) có bể đáy bình thường, 25,5% (23 ca) có hình ảnh bể đáy bị chèn ép mờ một phần và 27,8% (25 ca) bị xóa hoàn toàn bể đáy.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện lâm sàng và hình ảnh học trong nghiên cứu có thể được mô tả trực quan và sinh động thông qua hệ thống bảng biểu đối chiếu chéo giữa thang điểm tri giác Glasgow với mức độ đè đẩy đường giữa, hoặc biểu đồ cột biểu thị tương quan giữa tình trạng xóa bể đáy với tỷ lệ tử vong.

Nguyên nhân nam giới trẻ tuổi chiếm tới 85,6% và tai nạn giao thông chiếm 56,7% hoàn toàn phản ánh đúng thực tế dịch tễ xã hội tại Việt Nam. Đây là nhóm đối tượng tham gia giao thông nhiều nhất và thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ chấn thương năng lượng cao. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu ngoại thần kinh của Hoàng Chí Thành tại Bệnh viện Việt Đức và Lê Hoàng Tùng Uyên tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi ghi nhận tỷ lệ nam giới chấn thương sọ não luôn dao động trên 80%.

Về mặt sinh lý bệnh, việc có tới 38,9% bệnh nhân di lệch đường giữa trên 10 mm và 27,8% bị xóa hoàn toàn bể đáy giải thích cho tình trạng tụt kẹt thùy thái dương qua lều tiểu não, thể hiện trên lâm sàng bằng 35,6% ca giãn đồng tử một bên và 11,1% ca giãn đồng tử hai bên. Bể quanh não giữa bị xóa mờ là minh chứng rõ rệt cho sự tăng vọt áp lực nội sọ làm dịch chuyển cuống đại não và thân não. Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh những ca xóa hoàn toàn bể đáy có nguy cơ tử vong cao gấp 2 đến 3 lần so với nhóm bình thường. Do đó, kỹ thuật phẫu thuật mở sọ giảm áp rộng kết hợp tạo hình vá chùng màng cứng đã giải phóng thể tích hộp sọ hiệu quả, hạ áp lực nội sọ tới 70%, bảo toàn lưu lượng máu nuôi não và cải thiện tiên lượng sống còn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa chất lượng cấp cứu và điều trị phẫu thuật máu tụ nội sọ cấp tính do chấn thương, nghiên cứu đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Thiết lập quy trình phẫu thuật cấp cứu thần kinh tối khẩn cấp: Ban Giám đốc bệnh viện cùng Khoa Cấp cứu và Khoa Ngoại Thần kinh cần ban hành quy chuẩn báo động đỏ nội viện. Rút ngắn thời gian tiếp nhận, hoàn tất chụp cắt lớp vi tính và đưa người bệnh lên bàn mổ xuống dưới 60 phút đối với 100% bệnh nhân có điểm Glasgow dưới 9 điểm hoặc đường giữa di lệch trên 5 mm. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ tử vong do can thiệp muộn từ 20% xuống dưới 12% trong vòng 12 tháng tới.

  2. Chuẩn hóa kỹ thuật mở sọ giảm áp diện rộng và vá chùng màng cứng: Đội ngũ phẫu thuật viên ngoại thần kinh cần áp dụng thường quy đường rạch da hình dấu hỏi kích thước lớn mở nắp sọ tối thiểu 12 x 15 cm bộc lộ xuống tận nền sọ thái dương đối với các trường hợp máu tụ dưới màng cứng và phù não nặng. Kết hợp bắt buộc kỹ thuật vá chùng màng cứng bằng cân cơ thái dương hoặc màng cứng nhân tạo để hạ áp lực nội sọ trên 50%, duy trì áp lực tưới máu não trên 70 mmHg ngay trong 6 tháng triển khai.

  3. Áp dụng giao thức hồi sức thần kinh đa phương thức tích cực: Đơn vị Hồi sức Ngoại khoa cần kiểm soát chặt chẽ thông khí nhân tạo bảo vệ não, duy trì phân áp CO2 động mạch ở ngưỡng an toàn 35 - 40 mmHg, độ bão hòa oxy máu trên 92% và duy trì thân nhiệt người bệnh ổn định từ 36,5 đến 37,5 độ C. Kiểm soát chặt chẽ huyết áp động mạch trung bình nhằm duy trì áp lực tưới máu não, áp dụng đồng bộ ngay trong quý tiếp theo.

  4. Xây dựng mạng lưới theo dõi phục hồi chức năng và tái khám định kỳ: Phòng Kế hoạch tổng hợp phối hợp Khoa Phục hồi chức năng lập hồ sơ theo dõi điện tử dài hạn, định kỳ đánh giá kết quả sau mổ 3 tháng và 6 tháng theo thang điểm Glasgow Outcome Scale. Nâng tỷ lệ bệnh nhân được tái khám và can thiệp phục hồi chức năng vận động từ 55,6% hiện nay lên trên 85% trong lộ trình 24 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm chuyên môn chính:

  1. Bác sĩ chuyên khoa Phẫu thuật Thần kinh và Bác sĩ Nội trú Ngoại khoa: Tài liệu cung cấp hướng dẫn thực hành ngoại khoa chi tiết về tiêu chuẩn chỉ định mổ lấy máu tụ ngoài màng cứng khi thể tích trên 30 cm3, kỹ thuật mở nắp sọ giảm áp diện rộng giải phóng chèn ép não và phương pháp vá chùng màng cứng phòng ngừa thoát vị não nghẹt.

  2. Bác sĩ Hồi sức Cấp cứu và Gây mê Hồi sức: Các chuyên gia hồi sức có thể tham khảo phương pháp theo dõi huyết động, kiểm soát thông khí cơ học, điều chỉnh áp lực tưới máu não trên 70 mmHg và kiểm soát áp lực tĩnh mạch trung tâm trong mức 6 - 9 mmHg trong suốt giai đoạn chu phẫu.

  3. Học viên Cao học, Bác sĩ Chuyên khoa 2 và Nghiên cứu sinh Y học: Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp cả hai phương pháp hồi cứu 50 ca và tiến cứu 40 ca, minh họa cách thức xử lý số liệu y sinh bằng phần mềm SPSS 20.0 và kiểm định thống kê y học.

  4. Lãnh đạo bệnh viện và nhà quản lý y tế công cộng: Cung cấp bức tranh thực trạng về dịch tễ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông chiếm 56,7% tại khu vực miền núi phía Bắc, làm cơ sở khoa học để hoạch định đầu tư máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy và phân bổ nguồn lực cấp cứu ngoại viện.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khi nào bệnh nhân máu tụ ngoài màng cứng cấp tính có chỉ định phẫu thuật cấp cứu tuyệt đối? Chỉ định phẫu thuật tuyệt đối được đặt ra khi khối máu tụ ngoài màng cứng có thể tích trên 30 cm3 bất kể điểm Glasgow của bệnh nhân. Ngoài ra, chỉ định mổ được cân nhắc khẩn trương khi điểm Glasgow dưới 9 điểm kèm bề dày khối máu tụ trên 15 mm hoặc đường giữa di lệch trên 5 mm.

  2. Thang điểm tri giác Glasgow có giá trị tiên lượng kết quả phẫu thuật như thế nào? Điểm Glasgow trước mổ là yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng hàng đầu đối với tỷ lệ tử vong và di chứng. Bệnh nhân có điểm Glasgow từ 13 - 15 điểm có khả năng hồi phục tốt vượt trội, trong khi nhóm bệnh nhân có điểm Glasgow từ 3 - 8 điểm đối mặt với nguy cơ biến chứng và tỷ lệ tử vong cao gấp nhiều lần.

  3. Tại sao mức độ di lệch đường giữa trên 10 mm trên phim cắt lớp vi tính lại là dấu hiệu đe dọa tử vong? Di lệch đường giữa trên 10 mm biểu thị tình trạng bất đối xứng áp lực nội sọ trầm trọng giữa hai bán cầu não. Áp lực chênh lệch đẩy nhu mô não qua dưới liềm đại não hoặc qua lều tiểu não, gây tắc nghẽn lưu thông dịch não tủy và đè ép trực tiếp vào thân não, dẫn tới ngừng thở và tử vong nếu không mổ giải áp kịp thời.

  4. Phẫu thuật mở nắp sọ giải áp kết hợp vá chùng màng cứng đem lại lợi ích hạ áp lực nội sọ ra sao? Cắt bỏ một phần xương sọ đơn thuần chỉ giúp hạ khoảng 15% áp lực nội sọ. Khi phẫu thuật viên tiến hành mở rộng màng cứng và vá chùng màng cứng bằng vật liệu tự thân hoặc nhân tạo, áp lực nội sọ sẽ giảm tiếp 55%, mang lại tổng hiệu quả hạ áp lực nội sọ đạt tới 70%, giúp khôi phục tức thì tưới máu não.

  5. Biến chứng thường gặp nhất trong và sau phẫu thuật giải phóng chèn ép não là gì? Biến chứng sau mổ gặp ở khoảng 36% đến 62% trường hợp. Các biến chứng thường gặp nhất bao gồm chảy máu tái phát tại ổ mổ, xuất hiện khối máu tụ mới ở bán cầu đối diện, tụ dịch dưới màng cứng cùng bên với tỷ lệ từ 21% đến 50%, giãn não thất sau mổ và nhiễm trùng rò dịch não tủy vết mổ chiếm từ 2% đến 6%.

Kết luận

  • Đề tài đã phân tích toàn diện 90 ca bệnh máu tụ nội sọ cấp tính, chỉ ra bệnh nhân chủ yếu là nam giới trẻ tuổi (85,6%) với nguyên nhân hàng đầu do tai nạn giao thông (56,7%).
  • Triệu chứng lâm sàng trước mổ đặc trưng bởi 23,3% ca hôn mê nặng theo thang điểm Glasgow và 46,7% ca có rối loạn phản xạ đồng tử, phản ánh mức độ chèn ép thân não nghiêm trọng.
  • Phim chụp cắt lớp vi tính sọ não khẳng định giá trị tiên lượng cốt lõi của mức độ di lệch đường giữa trên 10 mm (38,9%) và hình ảnh xóa mờ bể quanh não giữa (27,8%).
  • Kỹ thuật mở nắp sọ giải phóng chèn ép kết hợp vá chùng màng cứng và hồi sức tích cực đa phương thức là chìa khóa then chốt để hạ áp lực nội sọ và cứu sống bệnh nhân.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu lâm sàng xác thực, định hình chiến lược cấp cứu ngoại thần kinh chuẩn hóa cho hệ thống bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong giai đoạn 2022 - 2025.