BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. LỜI GIỚI THIỆU Có ý kiến cho rằng, mọi sự thay đổi trong văn học đều bắt nguồn từ sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Do vậy, đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam là bước đi ngắn nhất để chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm, nắm được sự thay đổi, cách tân và vận động của cả một giai đoạn, một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu bật được sức hấp dẫn của thời kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị không lỗi thời của nó về sau. Nghiên cứu quan niệm con người trong văn học không giống với việc tìm hiểu quan niệm con người trong các học thuyết triết học.
Con người trong văn học là sự ý thức về con người, là cách hiểu về con người và cuộc đời làm cơ sở cho việc sáng tạo ra các hình tượng nghệ thuật, hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng sống động. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như là cái lý bên trong của hình tượng. Quan niệm con người trong văn học phong phú và sinh động hơn nhiều so với quan niệm triết học. Tùy theo cách cảm nhận, đồng cảm của nhà văn đối với các số phận, tính cách cá nhân mà quan niệm về con người cá nhân được mở ra, mỗi tác giả, mỗi thời đại đều có thêm những đường nét mới.
Xem xét văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX qua một số hiện tượng chủ yếu, tiêu biểu ta có thể hình dung được một quá trình phát triển của quan niệm cá nhân trong văn học. Đó tuy không phải là vấn đề hoàn toàn mới đối với cảm thụ văn học, nhưng là nhiệm vụ mới của lý luận văn học và lịch sử văn học. Suốt mười thế kỉ trung đại, văn học Việt Nam đã kết tinh nhiều giá trị thâm sâu, trở thành niềm tự hào cho hậu thế. Văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn là một sức hút mãnh liệt đối những nhà nghiên cứu học thuật trong và ngoài nước, là nơi thể nghiệm và đạt được nhiều thành tựu của nhiều hệ thống lí thuyết nghiên cứu văn học.
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng). Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp tìm lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn. Đối với nhà trường THPT, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ.
cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu. Chương trình Ngữ văn THPT có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến. Các tác giả thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời.
Làm thơ với 1 skkn họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế theo quan điểm thời đại “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”. Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THPT có thể nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa về thời gian. Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứng thú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam.
Đổi mới căn bản, toàn diện là yêu cầu của giáo dục hiện nay. Việc xây dựng, áp dụng những hướng tiếp cận, phương pháp mới trong dạy học bộ môn để nâng cao hiệu quả dạy và học là yêu cầu phải được giải quyết. Đặc biệt, với xu hướng học lệch, học theo ban, chọn ngành nghề theo khối hiện nay tạo ra rất nhiều bất cập trong việc lựa chọn môn học. Các môn xã hội có xu hướng bị coi nhẹ.
Môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu hướng ấy. Nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là môn khoa học xã hội, tính ứng dụng không cao, không thiết thực với cuộc sống, công việc. Từ đó, dẫn đến tình trạng chán học văn, hoặc học mang tính đối phó. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có đổi mới phương pháp, tìm hướng tiếp cận mới trong dạy học môn Ngữ văn, tạo hứng thú, nâng cao năng lực học tập cho học sinh, giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, biết cảm thông, yêu thương chia sẻ với những số phận, cuộc đời thông qua mỗi trang sách, thông qua từng tác phẩm là điều rất cần thiết.
“Văn học là nhân học” học văn là để hình thành nhân cách con người. Và Ngữ văn là môn học quan trọng giúp học sinh có kỹ năng giao tiếp ứng xử trong cuộc sống. Tìm hướng tiếp cận, đổi mới phương pháp, từ đó tạo hứng thú trong học tập cho học sinh, khơi gợi, đánh thức niềm đam mê với văn học, tìm về với giá trị đời sống tâm hồn của con người là vấn đề được đặt ra và cần phải giải quyết. Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học”.
Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng ta. Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của học sinh, hơn ai hết giáo viên phải tìm, xây dựng hướng tiếp cận mới, phương pháp mới để phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, tạo hứng thú, hưng phấn, khơi dậy đam mê học tập ở học sinh. Có thể nói, cốt lõi của việc tạo hứng thú, tạo tâm thế hưng phấn, tích cực cho học sinh trong học tập bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo hướng lấy hoạt động học tập của học sinh làm trung tâm, học trò là người chủ động khám phá, lĩnh hội kiến thức, người thầy đóng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm những hướng tiếp cận bài học linh hoạt, khoa học, hợp lí nhằm tạo hứng thú học tập của học sinh trong dạy học Ngữ văn là rất cần thiết.
2 skkn Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy thực tiễn của bản thân, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy và học, mong muốn học sinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích những tác phẩm văn học trung đại tôi chọn đề tài: “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 11(Tự tình – Hồ Xuân Hương; Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngắn đi tên bãi cát – Cao Bá Quát; Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến; Thương vợ - Trần Tế Xương) ”. TÊN SÁNG KIẾN “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11(Tự tình – Hồ Xuân Hương; Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngắn đi tên bãi cát – Cao Bá Quát; Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến; Thương vợ - Trần Tế Xương) ”. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: - Họ và tên: Đàm Thị Phượng - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THPT Yên Lạc 2 - Số điện thoại: 0978373509. E_mail: Lanphuong15208@gmail.
CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN: - Đàm Thị Phượng – Trường THPT Yên Lạc 2 – Vĩnh Phúc 5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Áp dụng trong giảng dạy học sinh lớp 11 môn Ngữ văn, đặc biệt là các lớp chuyên văn và bồi dưỡng học sinh tham gia kì thi chọn học sinh giỏi các cấp môn Ngữ văn. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN 7.
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 7. Mục đích nghiên cứu Mục đích của tôi khi nghiên cứu vấn đề này là tìm được những hướng tiếp cận mới, phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo được hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh khi học môn Ngữ văn nói chung và Văn học trung đại Việt Nam nói riêng. Đồng thời, qua thực trạng, tìm hiểu được nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng tới việc học văn của học sinh, từ đó đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập môn Ngữ văn, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Văn cho học sinh THPT. Cụ thể: * Kiến thức - Giúp học sinh: Nắm được những biểu hiện của con người cá nhân trong Văn học trung đại thế kỉ XVIII – XIX thông qua một số tác phẩm thơ được học trong chương trình Ngữ văn 11.
* Năng lực 3 skkn - Giúp hình thành ở các em các năng lực: Năng lực tự học. Năng lực tự giải quyết vấn đề, thu thập thông tin liên quan đến văn bản. Năng lực sáng tạo. Năng lực giao tiếp, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận. Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan điểm, cảm nhận sau khi đọc văn bản. Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ. Năng lực vận dụng kiến thức liên môn: lịch sử, địa lý…; Tích hợp kiến thức sách vở và đời sống; Tích hợp tự thân: Đọc văn - Tiếng việt - Làm văn.
* Kĩ năng - Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm thơ trữ tình trung đại. - Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học.