mở đầu cho những nghiên cứu về tai biến mạch não. Năm 1718, Dionis mô tả bệnh cảnh lâm sàng của CMDN và năm 1775 Hunter mô tả chứng phình ĐMN và phình động –tĩnh mạch não. Giovani Morgagni (1775) đã chỉ ra nguyên nhân của CMDN có thể là vỡ TP ĐMN, tác giả Huntchinson (1875) mô tả triệu chứng của TP ĐMN đoạn trong xoang hang gồm đau đầu dữ dội kèm theo liệt các dây thần kinh sọ III, IV, VI và dây V1. Johnathan Hutchinson mô tả lâm sàng TP ĐMN hình túi không có nguyên nhân chấn thƣơng vào năm 1861, sau 11 năm chẩn đoán này đã đƣợc khẳng định bằng việc mổ xác.
Đến năm 1923, Harvey Cushing đã chỉ ra rằng chứng phình ĐMN ở những BN trẻ tuổi bị đột quỵ 1 hoặc nhiều lần với những cơn đột quỵ xẩy ra khá bất ngờ, sau đó Symonds C phối hợp với Curshing để chẩn đoán xác định để chứng phình mạch có thể dựa trên một loạt các triệu chứng lâm sàng [6]. Năm 1927, Egas Moniz phát minh ra chụp ĐMN, vấn đề chẩn đoán và điều trị phẫu thuật các trƣờng hợp phình mạch não mới đƣợc coi trọng và liên tục đƣợc phát triển và ngày càng hoàn thiện. Năm 1951, Ecker và Reimenschneider phát hiện ra hiện tƣợng co thắt mạch não trên phim chụp mạch ĐM não. Sự biến đổi về nƣớc - điện giải, đặc biệt là giảm Natri máu sau CMDN đƣợc Joint và CS mô tả năm 1965.
luan an 4 Năm 1968, đánh giá tình trạng của CMDN đƣợc thống nhất sử dụng bảng kiểm của Hunt và Hess. Vào năm 1988 Hội phẫu thuật thần kinh thế giới đƣa ra bản kiểm hoàn chỉnh hơn và sử dụng cho tới ngày nay có giá trị về mặt tiên lƣợng. Seldinger (1953) ứng dụng phƣơng pháp chụp mạch não qua ống thông một cách dễ dàng. Năm 1983 Maneft và cộng sự phát hiện ra phƣơng pháp chụp mạch số hoá xoá nền.
Theo Boulin A, Pierot L so sánh kết quả chụp mạch và chụp cộng hƣởng từ mạch máu (TOF) trong theo dõi sau nút túi phình mạch não đƣa ra kết luận: chụp cộng hƣởng từ mạch máu chỉ thay thế đƣợc một phần chụp mạch vì gặp khó khăn trong phát hiện dòng chảy nhỏ mới xuất hiện, hoặc còn dòng chảy nhỏ trong túi phình hoặc với chỗ gấp mạch [7]. Điều trị vỡ túi phình động mạch não Điều trị phẫu thuật túi phình động mạch não Năm 1805, Astley Paston đã tiến hành thắt ĐM cảnh chung để điều trị chứng phình ĐM cảnh, BN xuất hiện liệt nửa ngƣời và tử vong sau 8 ngày điều trị. Đây là gợi ý cho việc điều trị chứng phình mạch ở ĐM cảnh sau này [6]. Năm 1885, Victor Horseley thực hiện thắt ĐM cảnh cùng bên để điều trị TP mạch não khổng lồ đã đƣợc chẩn đoán xác định trƣớc, trong mổ.
BN sống đƣợc 5 năm sau phẫu thuật [8]. Năm 1921, Zeller thực hiện thắt ĐMCT nhằm điều trị phình mạch não nhƣng BN đã chết ngay sau đó. Cùng năm đó, Harvey Cushing nhận xét ‗‗phình mạch là một tổn thƣơng có cổ‘‘ đồng thời ông mô tả việc sử dụng kẹp (clip) để kẹp ĐM [9]. Để làm giảm tỉ lệ tử vong, các phẫu thuật viên thần kinh luan an 5 đã đƣa ra các phƣơng pháp mới nhƣ thắt ĐM cảnh từng phần của William Halsted (1905) hay phƣơng pháp ép ĐM cảnh trƣớc mổ để đánh giá khả năng thích nghi của BN của Rudolph Matas [10].
Norman Dott (1897- 1973): ngƣời đầu tiên phẫu thuật tiếp cận trực tiếp TP ĐMN vào năm 1931. Trong phẫu thuật này, ông thực hiện gói cơ để gia cố thành TP ĐMN ở vị trí ngã ba. BN diễn biến tốt và sống khỏe mạnh 12 năm sau đó rồi tử vong do nhồi máu cơ tim [6,8]. Phẫu thuật này đánh dấu bƣớc ngoặt cho phẫu thuật TP ĐMN hiện đại.
Normam Dott cũng là ngƣời đầu tiên phẫu thuật phình ĐM não dựa trên phim chụp ĐM não qua ĐM cảnh (1933). Ông nhận xét rằng tất cả các phình ĐM não đều xuất phát từ chỗ chia nhánh của ĐM và luôn đi kèm thành mạch yếu. Nếu TP gần với đa giác Willis, ông gợi ý nên thắt ĐM cảnh, TP nằm xa đa giác Willis thì phẫu thuật mở và sử dụng cơ để bọc [6]. Tuy nhiên đây là những chiến lƣợc thụ động, có hạn chế nhất định do đó các nhà phẫu thuật thần kinh đề ra chiến thuật cô lập hoàn toàn TP khỏi dòng chảy ĐM trong khi vẫn duy trì đƣờng kính của ĐM mang TP.
Ngày 23 tháng 3 năm 1937, Walter Dandy thực hiện dùng clip bạc hình chữ V để kẹp cổ TP, bảo toàn ĐM mang TP ở ĐM thông sau của BN 43 tuổi có biểu hiện lâm sàng trƣớc mổ là liệt dây III. Tác giả Dandy đã xuất bản quyển sách đầu tiên mô tả các phƣơng pháp phẫu thuật TP ĐMN, ông cũng lƣu ý với các nhà phẫu thuật thần kinh về ―cái cổ nhỏ của túi phình là nơi tốt nhất để đặt dụng cụ loại bỏ túi phình‖ [6,9,11,12]. Ngƣời thực hiện đầu tiên nối mạch từ ĐM cảnh ngoài- ĐMCT nội sọ bằng tĩnh mạch hiển là E. Kunlin (bác sỹ phẫu thuật mạch máu Pháp) vào năm 1962 để điều trị TP ĐMN khổng lồ mà không thể kẹp clip đƣợc, BN sống qua cơn nguy hiểm nhƣng chết vì nguyên nhân viêm phổi.
Sau đó, Smith đã thực hiện nối mạch từ ĐM thái dƣơng nông với nhánh của ĐM não giữa để điều trị TP kích thƣớc lớn [11]. luan an 6 Điều trị nội mạch túi phình động mạch não Năm 1941, Werner và CS sử dụng nhiệt điện để gây huyết khối trong lòng TP đã vỡ thông qua dây dẫn bằng kim loại bạc, đƣờng vào là chọc qua ổ mắt, làm nóng và làm ngừng chảy máu TP ĐMN [13]. Trong những năm 1960, Luessenhop và Valasquez - những ngƣời tiên phong đặt ống thông vào ĐM nội sọ, họ đã sử dụng một ống luồn và bơn trực tiếp chất Silastic vào mạch máu nội sọ. Cũng tại thời điểm này Frei và Yodh đã phát minh ra ống luồn nhỏ có đầu gắn nam châm đƣợc điểu khiển bên ngoài bằng cục nam châm để điều trị bệnh tắc ĐM não, sau đó đầu ống thông nhỏ đƣợc cải tiến gắn thêm bóng để điều trị các bệnh lý mạch máu não bằng con đƣờng nội sọ [14].
Đến năm 1971, Serbinenko sử dụng các ống thông gắn bóng Latex để lấp TP ĐMN hoặc làm tắc ĐM mang TP [15]. De Brun, Latinen, Servo và Taki tiếp tục sử dụng bóng của Serbinenko vào năm 1978 và có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng bóng ở nhiều trung tâm khác nhau. Tác giả Gianturco sử dụng các lò so kim loại để nút ĐM thận, tiếp đến là Hilal đã phát triển kỹ thuật này với lò xo Platinum (pushabel coil- lò xo đẩy) cho các TP ĐMN nhƣng kết quả còn nhiều hạn chế do không khống chế đƣợc lò xo khi đã đẩy khỏi ống thông (guiding catheter). Năm 1990, loại lò xo mới: GDC- Guglielmi Detachable coil do Guglielmi đã sáng chế ra, đây là lò xo platinum cắt bằng điện (electrolyti coil).
Chỉ sau khi đƣợc đặt vào trong lòng TP qua ống thông nhỏ (microguidewire catheter), lò xo sẽ đƣợc cắt bằng dòng điện trực tiếp và sẽ nằm hoàn toàn trong lòng túi. luan an 7 Các phƣơng tiện hỗ trợ vi phẫu thuật mạch máu trong điều trị túi phình động mạch não Kính hiển vi phẫu thuật Bƣớc tiến quan trọng trong phẫu thuật TP ĐMN là khi có kính hiển vi phẫu thuật với phẫu trƣờng đủ sáng, hình ảnh rõ nét và đặc biệt có thể truyển ảnh trực tiếp ra các phƣơng tiện hỗ trợ ngoài kính. Bologna là ngƣời phát minh ra hệ thông quang học, có thể sử dụng nhƣ một kính thiên văn soi vi phẫu để kiểm tra các vết thƣơng ở chân và cũng là ngƣời truyền cảm hứng cho vấn đề sử dụng kính phóng đại trong y học [9]. Campagni khi đề cập đến bản vẽ của mình đã viết tác phẩm: ―Minh họa cho thấy các ứng dụng của kính hiển vi khi kiểm tra các vết thƣơng ở chân‖.
Đây là tác phẩm đầu tiên nói về ứng dụng của kính hiển vi trong y học và phẫu thuật. Ba mƣơi năm sau đó, Carl Nylen- phẫu thuật viên tai mũi họng áp dụng mổ vi phẫu thuật trong bệnh viêm tai giữa mạn tính với kính vi phẫu đơn giản một mắt. Kính hiển vi phẫu thuật tiếp tục đƣợc cải tiến bởi Gunnar Holmgren và tạo ra kính hiển vi phẫu thuật hai mắt vào năm 1922. Từ đó các thế hệ kính vi phẫu lẫn lƣợt ra đời với độ phóng đại lớn mà không cần thay đổi độ dài tiêu cự, độ nét cao hơn với ánh sáng đồng trục, loại bỏ hơi nƣớc gây nhiễu cho ống kính [9],[11],[12].
Theodore Kurze - ngƣời tiên phong cho việc áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong phẫu thuật thần kinh vào mùa hè năm 1957. Ông đã áp dụng mổ u thần kinh VII của BN 5 tuổi ở Los Angeles. Sau đó Rand, Janetta cũng mô tả việc sử dụng kỹ thuật vi phẫu để áp dụng trong mổ phình mạch não từ kính hiển vi Zeiss OPMI 1 mƣợn từ khoa tai mũi họng. Từ đó kính hiển vi nhanh chóng trở thành nền tảng căn bản của phẫu thuật TP ĐMN.
Tiến sĩ Yasargil - học trò của Hugo Krayenbuhl ở Zurich, đã trở thành một biểu tƣợng của sự phát triển luan an 8 các kỹ thuật vi phẫu trong phẫu thuật mạch máu não nói riêng và phẫu thuật thần kinh nói chung. Các ý tƣởng về vi phẫu thuật cho phẫu thuật mạch máu não của ông đƣợc ra đời khi ông làm việc ở la bô của Peter Donaghy tại Burlington [6],[9],[11],[12]. Các loại clip mạch máu Loại clip đầu tiên Dandy sử dụng vào năm 1937 là loại clip bạc Cushing- MacKenzie do Cushing phát minh ra năm 1911. Phẫu thuật viên không thể tháo clip này ra sau khi đã kẹp do đó phẫu thuật phải rất chi tiết đồng thời phải có độ chính xác rất cao [6],[9].
Frank Mayfield đã có những cải tiến rất quan trọng trong việc thiết kế ra các loại clip với kích cỡ, hình dạng khác nhau. Điều này tạo cơ hội cho các phẫu thuật viên thần kinh có nhiều lựa chọn và thoải mái hơn trong mổ. Sau này, Gazi Yasargil và Kenichiro Sugita đã giới thiệu một loạt clip mới bằng hợp kim không mòn có lực đóng đã định trƣớc. Các loại kim loại này còn không gây nhiễu khi chụp CHT.
Từ đây mở ra một tầm cao mới cho phẫu thuật phình ĐMN [6],[9],[11]. Tại Việt Nam. Năm 1962, Nguyễn Thƣờng Xuân và CS đã nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị phẫu thuật vỡ TP ĐMN. Phạm Hòa Bình và CS đã báo cáo những nhận xét bƣớc đầy trong điều trị phẫu thuật phình ĐMN tại bệnh viện 108.