MỞ ĐẦU Trật khớp cùng đòn (TKCĐ) xảy ra do lực đập trực tiếp lên vai với cánh tay khép hoặc do gián tiếp té ngã trên cánh tay duỗi vì vậy TKCĐ là loại chấn thƣơng thƣờng gặp, đặc biệt ở ngƣời trẻ do va chạm trong thể thao [32],[75],[156]. Tổn thƣơng khớp cùng đòn chiếm khoảng 40% tới 50% toàn bộ tổn thƣơng vai do thể thao [46],[156]. Hiện nay tại Việt Nam do tình hình tai nạn giao thông tăng lên đặc biệt là xe gắn máy 2 bánh gây té đập vai gây ra nhiều tổn thƣơng khớp cùng đòn. Một thời gian dài trƣớc đây tổn thƣơng khớp cùng đòn đƣợc phân làm 3 độ theo Tossy và cộng sự [159] và Allman [12] từ thập niên 60, rồi sau đó Rockwood (1989) [171] mở rộng thành 6 độ, trong đó từ độ III trở lên, khớp cùng đòn bị trật hoàn toàn, đứt cả dây chằng quạ đòn (QĐ) và dây chằng cùng đòn (CĐ) đƣợc xem nhƣ đúng nghĩa là TKCĐ.
TKCĐ dẫn tới mất thẩm mỹ vùng vai do đầu ngoài xƣơng đòn nhô cao lên, đau, mỏi, yếu cơ, giảm chức năng vùng vai [75]. Chức năng của khớp cùng đòn là treo vai lên xƣơng đòn và nâng đỡ trọng lƣợng của chi trên, vì vậy khi dây chằng bị đứt, sự vững của khớp chỉ đƣợc duy trì bởi cơ [17],[86]. Vì lý do này nhiều bệnh nhân có nhiều mức độ mất vững khác nhau sau khi mất cấu trúc giải phẫu cùng đòn bình thƣờng. Do đó nguyên tắc điều trị là phục hồi giải phẫu bình thƣờng mang lại cho bệnh nhân khả năng lấy lại chức năng bình thƣờng của vai.
Điều trị bảo tồn cũng đƣợc ủng hộ [60] tuy nhiên với trật cùng đòn độ III-VI thì kết quả kém, thƣờng dẫn tới mất vững mãn tính. Điều trị phẫu thuật trật khớp cùng đòn đƣợc báo cáo đầu tiên của Cooper năm 1861 nắn và cố định khớp bằng chỉ bạc [36]. Đến nay có hơn 60 phƣơng pháp phẫu thuật điều trị TKCĐ. Nhiều phƣơng pháp ban đầu là nắn và cố định bằng kim loại.
Năm 1940 Murray xuyên cố định khớp cùng đòn bằng kim Kirschner [115]. Những năm sau đó Bosworth sử dụng phƣơng 2 pháp bắt vít quạ đòn qua da [22]. Thật không may là những kỹ thuật này thƣờng có biến chứng do dụng cụ kim loại gây ra mà phải lấy bỏ và kết quả chức năng không cao và tỷ lệ thất bại trên X quang cao. Có nhiều phƣơng pháp phẫu thuật mô mềm đƣợc báo cáo với mục đích tái tạo lại chức năng của dây chằng quạ đòn và hoặc dây chằng cùng đòn bị đứt.
Những phƣơng pháp này bao gồm tạo hình dây chằng [116],[167], chuyển cơ [14],[46],[57],[81],[162] và tái tạo dây chằng từ mô tự thân, đồng loại hoặc nhân tạo [25],[66],[80],[178]. Tạo hình dây chằng là chuyển vị trí của một dây chằng phổ biến là phƣơng pháp Weaver-Dunn và những cải biên, chuyển vị trí bám của dây chằng quạ cùng tại mỏm cùng lên trên xƣơng đòn. Sự khó khăn của các phƣơng pháp này là duy trì sự nắn khớp bởi vì dây chằng đƣợc chuyển thì không mạnh bằng và không tái tạo giải phẫu bình thƣờng nhƣ dây chằng quạ đòn tự nhiên. Điều này dẫn tới sự phát triển của phƣơng pháp tái tạo dây chằng quạ đòn nhƣ giải phẫu với mục đích tái tạo giải phẫu dây chằng quạ đòn sử dụng mô ghép đủ mạnh [25].
Tại Việt Nam điều trị trật cùng đòn thƣờng là xuyên kim và néo chỉ thép, hoặc cố định quạ đòn bằng vít hoặc chỉ thép hoặc chỉ không tan và chƣa có báo cáo nào về kết quả của các phƣơng pháp này. Tuy nhiên trong thực tế tại khoa Chi trên bệnh viện Chấn Thƣơng Chỉnh Hình (CTCH) và các khoa CTCH tại các bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ thất bại rất cao. Năm 2009 Nguyễn Ngọc Tuấn [8] báo cáo kết quả điều trị trật khớp cùng đòn bằng tái tạo dây chằng quạ đòn từ dây chằng quạ cùng (phƣơng pháp Weaver-Dunn cải biên), có tỷ lệ thất bại mất nắn khớp tới 30%.
Chƣa có công trình nghiên cứu tổng kết của tác giả khác về điều trị trật khớp cùng đòn bằng tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu bằng gân ghép. Vì vậy nghiên cứu này đƣợc thực hiện về điều trị trật khớp cùng đòn bằng tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu và tái tạo dây chằng cùng đòn bằng mô ghép gân. 3 Các tác giả thƣờng lấy nguồn gân ghép tự thân cho tái tạo dây chằng khớp cùng đòn là gân cơ bán gân hoặc gân gan tay dài. Mỗi gân ghép vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm.
Gân cơ bán gân bị lấy đi sẽ làm yếu cơ chế gấp gối [9]. Đối với những trƣờng hợp phải tái tạo nhiều dây chằng cùng một lúc hoặc các mảnh ghép tự thân kinh điển không sử dụng đƣợc (không đáp ứng về kích thƣớc hoặc bị hỏng trong quá trình lấy mảnh ghép) hoặc trong những trƣờng hợp phải tái tạo lại dây chằng đã tái tạo trƣớc đó bị hỏng thì đòi hỏi thêm nguồn lấy ghép [9]. Gân gan tay dài thì sức chịu tải tối đa không đủ làm mảnh ghép [69]. Mảnh ghép lý tƣởng trong phẫu thuật tái tạo dây chằng khớp cùng đòn cần đáp ứng các yêu cầu nhƣ phải đủ chiều dài, đƣờng kính không quá to (<5mm) [48], sự tiện dụng và dễ dàng lấy mảnh ghép, đủ độ bền chắc, thƣơng tổn tại vị trí lấy ghép không đáng kể.
Gân gấp nông ngón tay 3,4 thƣờng đƣợc lấy làm mảnh ghép trong chuyển gân và ghép gân và chức năng của gân gấp nông ngón 3,4 có thể bù trừ bằng gân gấp sâu cùng ngón [23]. Với các lý do trên gân gấp nông ngón tay 3 đƣợc chọn làm nguồn mảnh ghép trong nghiên cứu. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài điều trị trật khớp cùng đòn bằng tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu và tái tạo dây chằng cùng đòn bằng mô ghép là gân gấp nông ngón tay 3 với mục tiêu nghiên cứu là: 1. Khảo sát trên thực nghiệm một số đặc điểm giải phẫu và cơ sinh học: chiều dài, đƣờng kính và độ bền chắc của gân gấp nông ngón tay 3.
Đánh giá kết quả điều trị trật khớp cùng đòn độ III mãn tính; độ IV, V và các trƣờng hợp đã phẫu thuật thất bại bằng mổ nắn trật, tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu và tái tạo dây chằng cùng đòn từ gân gấp nông ngón tay 3 về: phục hồi chức năng, X quang, các biến chứng và các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả X quang và phục hồi chức năng. GIẢI PHẪU VÀ CƠ SINH HỌC KHỚP CÙNG ĐÕN VÀ CÁC CẤU TRÚC LIÊN QUAN Khớp cùng đòn là một khớp động giữa đầu ngoài xƣơng đòn và đầu trong của mỏm cùng vai. Trong mặt phẳng trán, trục của khớp cùng đòn gần nhƣ thẳng đứng hoặc nghiêng theo hƣớng xuống dƣới, vào trong; với góc nghiêng có thay đổi, có thể lên đến 50° (hình 1.1: Các độ nghiêng khác nhau của khớp cùng đòn. Khớp cùng đòn chi phối bởi thần kinh ngực ngoài, thần kinh nách và thần kinh trên vai.
Nhiều nghiên cứu xác nhận rằng xƣơng đòn xoay khoảng 400-450 khi vai dạng hoặc đƣa ra trƣớc hoàn toàn [83]. Tuy nhiên xƣơng đòn thực sự chỉ xoay 50-80 so với mỏm cùng bởi vì sự chuyển động đồng bộ của xƣơng bả vai và xƣơng đòn [58]. Các yếu tố giữ vững tĩnh khớp cùng đòn 1. Dây chằng cùng đòn (bó trƣớc, sau, trên và dƣới) và bao khớp Các cấu trúc này chủ yếu giữ vững khớp cùng đòn trên mặt phẳng ngang (chuyển động trƣớc sau).
Klimkiewicz và cộng sự khi thực nghiệm trên xác chứng tỏ rằng bó trên và sau đóng vai trò chủ yếu, bó trên góp phần 56%, bó sau góp phần 25% cho sự vững phía sau [87]. Sự mất vững trƣớc sau có thể gây ra sự va chạm giữa xƣơng đòn và gai vai phía sau. Dây chằng quạ đòn (hình 1.2) Giải phẫu: dây chằng quạ đòn gồm 2 bó nón ở trong và thang ở ngoài Hình 1.2: Dây chằng QĐ gồm 2 thành phần: nón và thang “Nguồn: Simovitch, 2009” [137] Katsumi Takase nghiên cứu chi tiết giải phẫu của dây chằng quạ đòn trên 40 vai của 20 xác rút ra kết luận sau [149] (hình 1.5): Bó thang bắt đầu tại vị trí cách giữa đỉnh mỏm quạ khoảng 2cm và hƣớng thẳng bám vào mặt dƣới xƣơng đòn và diện bám: 13-26mm x 13-15mm (chiều dọc x chiều ngang). Bó nón bắt đầu tại vị trí bờ sau trong của mỏm quạ hƣớng bám vào củ nón xƣơng đòn và diện bám: 15-30mm x 3-6mm (chiều dọc x chiều ngang).
Harris cũng nghiên cứu giải phẫu trên xác thấy rằng: chiều dài trung bình lớn nhất của dây chằng nón, dây chằng thang và khoảng cánh trung bình giữa 2 dây chằng lần lƣợt là: 1,94cm; 1,93cm và 2,06cm [80]. 6 Sau Trƣớc Hình 1.3: Mặt dƣới xƣơng đòn bên trái. (mũi tên đen: đầu ngoài xƣơng đòn, mũi tên đen rời: diện bám bó thang, mũi tên trắng rời: diện bám bó nón, mũi tên trắng: củ nón) “Nguồn: Takase, 2010” [149] Diện bám bó nón Diện bám bó thang Hình 1.4: Diện bám của dây chằng quạ đòn tại mặt dƣới xƣơng đòn trái “Nguồn: Takase, 2010” [149]. A,B: chiều dọc và chiều ngang của bó thang C,D: chiều dọc và chiều ngang của bó nón i: khoảng cách từ chỗ bám rộng nhất của bó nón (củ nón) tới bờ ngoài xương đòn, 25-43mm, trung bình 38mm g: khoảng cách từ chỗ bám rộng nhất của bó thang tới bờ ngoài xương đòn, 12-21mm, trung bình 17,4mm 7 Hình 1.5: Diện bám của dây chằng quạ đòn trên mỏm quạ (bên phải) “Nguồn: Takase, 2010” [149] (a) Mặt trên mỏm quạ: mũi tên trắng: điểm trung tâm đỉnh mỏm quạ, mũi tên đen: dây chằng quạ cùng, mũi tên trắng rời: bó nón, mũi tên đen rời: bó thang.
(b) Biểu đồ của mỏm quạ: 1: diện bám của dây chằng quạ cùng; 2: khoảng cách giữa điểm trung tâm đỉnh mỏm quạ và giới hạn trƣớc của diện bám bó thang; 3: khoảng cách giữa điểm trung tâm đỉnh mỏm quạ và giới hạn trƣớc của diện bám bó nón; 4,5: chiều ngang và chiều dọc của diện bám bó thang; 6,7: chiều ngang và chiều dọc của diện bám bó nón. Cơ sinh học: dây chằng quạ đòn đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ vững trên dƣới của khớp cùng đòn, ngăn sự di chuyển xuống dƣới của phức hợp vai cánh tay hoặc di chuyển lên trên của xƣơng đòn. Bó nón cung cấp 60% cho sự vững này [37]. Dây chằng quạ đòn cũng đóng vai trò giữ vững trƣớc sau.
Debski và công sự chứng tỏ rằng khi dây chằng cùng đòn bị tổn thƣơng, dây chằng quạ đòn tăng lực giữ trên xƣơng khi đáp ứng với lực tác động trƣớc sau [42].