Luận văn kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone và một số yếu tố liên quan tại huyện kinh môn hải dương năm 2015

Luận văn phân tích kết quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone và các yếu tố liên quan tại huyện Kinh Môn, Hải Dương năm 2015.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

118
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kết quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone

Nghiên cứu mô tả kết quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại huyện Kinh Môn, Hải Dương năm 2015. Kết quả cho thấy, 63.3% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi từ 30 trở lên, 97.3% là nam giới. Liều điều trị duy trì dưới 100mg/ngày chiếm tỷ lệ cao, trong đó 48.7% dùng liều dưới 60mg/ngày. Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 21.3%, và 28.0% vẫn sử dụng lại chất gây nghiện. Hành vi nguy cơ về tiêm chích ma túy rất thấp (4.8%), nhưng tỷ lệ không sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ở nhóm bệnh nhân có bệnh kèm theo cao (59.7% viêm gan B, 57.7% viêm gan C, 20.8% HIV). Tỷ lệ lây nhiễm HIV không tăng, nhưng viêm gan C tăng từ 21.3% lên 48.0%. 74% bệnh nhân tăng cân sau điều trị.

1.1. Tác động của Methadone

Methadone đã giúp giảm đáng kể hành vi nguy cơ liên quan đến tiêm chích ma túy. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng lại chất gây nghiện vẫn cao, đặc biệt ở nhóm không tuân thủ điều trị. Tác động của Methadone còn thể hiện qua việc cải thiện sức khỏe thể chất, với 74% bệnh nhân tăng cân. Tuy nhiên, tỷ lệ viêm gan C tăng cao cho thấy cần kết hợp điều trị Methadone với các biện pháp phòng ngừa bệnh kèm theo.

1.2. Thống kê điều trị

Thống kê điều trị cho thấy, liều Methadone dưới 100mg/ngày là phổ biến, với 48.7% bệnh nhân dùng liều dưới 60mg/ngày. Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 21.3%, và 28.0% vẫn sử dụng lại chất gây nghiện. Điều này cho thấy cần tăng cường tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.

II. Yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng lại chất gây nghiện. Các yếu tố bao gồm tình trạng thất nghiệp, tiền sử sử dụng chất gây nghiện nhiều lần trong ngày, sử dụng rượu/bia, không tuân thủ điều trị, không hài lòng với thái độ của cán bộ y tế, và gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo. Những yếu tố này có ý nghĩa thống kê trong việc dự đoán tình trạng sử dụng lại chất gây nghiện.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm tình trạng thất nghiệp, tiền sử sử dụng chất gây nghiện nhiều lần trong ngày, và sử dụng rượu/bia. Những bệnh nhân không tuân thủ điều trị và không hài lòng với thái độ của cán bộ y tế cũng có nguy cơ cao sử dụng lại chất gây nghiện. Gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo cũng là yếu tố quan trọng.

2.2. Phương pháp điều trị

Phương pháp điều trị cần kết hợp tư vấn tuân thủ điều trị, cung cấp kiến thức dự phòng lây nhiễm các bệnh kèm theo, và tăng cường truyền thông giảm kỳ thị. Nghiên cứu cũng khuyến nghị tạo việc làm cho bệnh nhân và nâng cao vai trò của gia đình trong hỗ trợ điều trị.

III. Chương trình Methadone tại Kinh Môn Hải Dương

Chương trình Methadone tại huyện Kinh Môn, Hải Dương bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2011. Tính đến tháng 3/2015, có 192 bệnh nhân đang điều trị. Mặc dù đạt được kết quả ban đầu, chương trình vẫn gặp khó khăn như tỷ lệ bệnh nhân sử dụng lại chất gây nghiện cao, nhiều bệnh nhân không tuân thủ điều trị, và tỷ lệ bỏ điều trị không rõ lý do cao.

3.1. Thực tế triển khai

Thực tế triển khai cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng lại chất gây nghiện cao, nhiều bệnh nhân không tuân thủ điều trị, và tỷ lệ bỏ điều trị không rõ lý do cao. Điều này cho thấy cần cải thiện hiệu quả của chương trình thông qua tăng cường tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân.

3.2. Khuyến nghị

Khuyến nghị chính của nghiên cứu là duy trì và tăng cường các hoạt động tư vấn, đặc biệt là tư vấn tuân thủ điều trị. Cần kết hợp điều trị Methadone với việc điều trị và cung cấp kiến thức dự phòng lây nhiễm các bệnh kèm theo. Tăng cường truyền thông giảm kỳ thị và nghiên cứu tạo việc làm cho bệnh nhân.

23/02/2025
Luận văn kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone và một số yếu tố liên quan tại huyện kinh môn hải dương năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Chất ma tuý là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất dạng thuốc phiện (CDTP) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này.

Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng. Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai và vì vậy người bệnh cần phải được điều trị. Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương cấp là một tình trạng bệnh lý liên quan tới việc sử dụng một chất gây nghiện với liều lượng vượt quá khả năng dung nạp của người bệnh, dẫn tới sự biến đổi bất thường về ý thức, hành vi, cũng như các hoạt động tâm thần khác của người sử dụng.

Tình trạng nhiễm độc này rất khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào chất gây nghiện, liều lượng, đường dùng, tình huống và độ dung nạp với CDTP của người sử dụng. Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone gọi tắt là điều trị methadone. Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone gọi tắt là cơ sở điều trị methadone[3].

Tình hình sử dụng ma túy 1. Trên thế giới Tính đến tháng 6/2014, có khoảng 243 triệu người trong độ tuổi từ 15- 64 đã từng sử dụng ma túy, tương đương với 5% dân số thế giới. Trong đó, số người lệ thuộc ma túy khoảng 27 triệu người, chiếm khoảng 0,6% dân số trên toàn cầu[11]. Có nhiều người sử dụng ma túy đã sử dụng chất hướng thần, heroin như để thay thế cho các loại y dược giảm đau, hành động của họ chủ yếu do yếu tố giá rẻ và khả năng tiếp cận.

Trong khi đó, những người lệ thuộc thuốc phiện tại Mỹ chuyển từ opiod dược phẩm sang heroin và người sử dụng ma túy tại một số quốc gia châu Âu đang dần thay thế heroin bằng opiod tổng hợp[11]. Sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động sản xuất thuốc phiện tại Afghanistan là một thách thức khi diện tích canh tác đã tăng 36% từ 154.000 héc-ta vào năm 2012 lên 209.000 héc-ta vào năm 2013. Afghanistan sản xuất khoảng 5.500 tấn, tương đương với 80% sản lượng thuốc phiện toàn cầu[11]. Tại Myanmar, diện tích trồng cây thuốc phiện bao phủ 57.800 héc-ta và tiếp tục gia tăng hoạt động canh tác kể từ khi bắt đầu từ năm 2006.

Trong năm 2013, sản lượng heroin toàn cầu tăng trở lại mức của những năm 2008 và 2011[11]. Lượng cocain sẵn có trên toàn cầu đã giảm trong bối cảnh hoạt động sản suất cocain suy giảm kể từ năm 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng cocain tại Bắc Mỹ vẫn cao, tỷ lệ tiêu thụ và hoạt động buôn lậu cocain gia tăng tại Nam Mỹ. Bên cạnh đó, tỉ lệ sử dụng cocain tại châu Phi gia tăng do hoạt động buôn lậu cocain lan vào lục địa này.

Do khả năng chi tiêu được cải thiện, một số quốc gia châu Á phải đối mặt với khả năng làn sóng sử dụng cocain xâm nhập vào nội địa[11]. Tại Đông Á và Đông Nam Á, việc sử dụng methamphetamine tiếp tục gia tăng tại hầu hết các quốc gia. Năm 2013, gần 230 triệu viên methamphetamine và 11,6 tấn methamphetamine dạng đá đã bị thu giữ[11]. Heroin vẫn là loại ma túy “phải quan tâm” tại một số quốc gia trong khu vực bao gồm Trung Quốc, Malaysia, Myanmar và Việt Nam.

Sau giai đoạn tăng đột biến từ năm 2008 đến 2011, lượng heroin bị bắt giữ năm 2012 và 2013 tương đương nhau và điều này cho thấy xu hướng ổn định nhưng vẫn ở mức cao với trên 9 6 tấn bị thu giữ mỗi năm. Việc thu giữ này trùng hợp với hiện tượng canh tác cây thuốc phiện gia tăng trở lại tại khu vực Tam giác vàng, khu vực có tỷ lệ tăng theo từng năm kể từ năm 2006 và hiện diện tích canh tác ở con số 60. Ông Jeremy Douglas - Trưởng Đại diện khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương của UNODC cho rằng: “Thị trường ma túy tại Đông Á và Đông Nam Á có dấu hiệu cho thấy đang mở rộng mạnh mẽ. Các quốc gia trong khu vực tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong công tác thực thi pháp luật, công lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe cần được cộng đồng quốc tế hỗ trợ”[11].

Tại Việt Nam Tính đến năm 2012 cả nước có khoảng 170.000 người nghiện ma túy. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 10.000 người nghiện mỗi năm. Người nghiện ma túy đã có ở 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước[26]. Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổi đáng kể.

Nếu như giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma túy chủ yếu phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam bộ. Năm 1994 có tới hơn 61% người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộc khu vực các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là gần 30%. Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2% lên 31% trong cùng kỳ. Tương tự, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc các tỉnh miền Đông Nam bộ đã tăng từ 10,2% lên 23%[26].

Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa. Cuối năm 2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ lệ này chỉ khoảng 42%. Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới. Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng trong những năm qua[26].

Theo số liệu khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tại thời điểm cuối năm 2009, đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, khoảng 10% không biết chữ, 59% có trình độ văn hóa từ tiểu học tới trung học cơ sở. Có khoảng 7 2/3 số người nghiện chưa từng được đào tạo nghề; gần 20% đã được học nghề nhưng không được cấp bằng, chứng chỉ; khoảng 12% được đào tạo nghề một cách chính quy, được cấp bằng, chứng chỉ tốt nghiệp. Đa số người nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định, chi tiêu chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của gia đình, thu nhập hợp pháp chỉ bằng 1/3 số tiền chi cho ma túy[26]. Loại ma túy được sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi phức tạp.

Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trước đây, heroin hiện là loại ma túy được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có tới 96,5% người nghiện thường xuyên sử dụng heroin trước khi tham gia cai nghiện. Mặc dù tỷ lệ người nghiện thuốc phiện và các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS hay ma túy tổng hợp) tương đương nhau, khoảng 1,2% - 1,4% nhưng theo đánh giá của Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của Liên hợp quốc (UNODC), việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm 1/2 số người lạm dụng loại ma túy này trên toàn thế giới. Việc gia tăng lạm dụng các loại ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn[26]. Cách thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi.

Nếu như năm 1995 chỉ có chưa đến 8% số người nghiện tiêm chích ma túy và hơn 88% chủ yếu hút, hít thì tới cuối năm 2009 số người chích ma túy chiếm hơn 3/4 tổng số người nghiện ma túy của cả nước. Hình thức sử dụng ma túy chủ yếu là tiêm chích với việc dùng chung bơm kim tiêm đã dẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trong nhóm người nghiện chích ma túy (17,2%). Theo số liệu từ Bộ Y tế, người nghiện chích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam (41,1% tính đến cuối tháng 6/2011)[26]. Bên cạnh những hậu quả liên quan tới HIV/AIDS, xấp xỉ 50% số người nghiện được khảo sát năm 2009 cho biết họ đã gặp những vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, ảo giác, căng thẳng thần kinh trong 12 tháng trước khi tham gia cai nghiện, trong đó 11,4% thường xuyên hoặc luôn luôn gặp 8 những vấn đề như vậy.

Một tỷ lệ tương tự người nghiện ma túy thường gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất[26]. Bên cạnh những hệ lụy về tài chính và sức khỏe do sử dụng ma túy, hơn 1/3 số người nghiện ma túy tham gia cuộc khảo sát trên còn cho biết đã gặp những khó khăn, mâu thuẫn trong quan hệ với người thân trong gia đình[26]. Ngoài ra, nghiện ma túy là nguồn gốc, nguyên nhân tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm xâm phạm trật tự xã hội như giết người, cướp của, trộm cắp, cố ý gây thương tích, bạo lực gia đình… Số liệu khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho thấy, có gần 38% số học viên được tiếp nhận và hỗ trợ cai nghiện tại các Trung tâm đã có tiền án hoặc tiền sự [26]. Tình hình sử dụng ma túy tại huyện Kinh Môn- Hải Dương Tính đến ngày 19/11/2014, số người NCMT trên địa bàn huyện Kinh Môn là 627 người.

Trong đó người nghiện có mặt tại địa phương là 407 người, số vắng mặt tại địa phương là 49 người, số ở Trung tâm cai nghiện và ở các trại là 171 người. Đối tượng người NCMT chủ yếu là nam giới chiếm gần 97%, có 19 đối tượng nữ NCMT được quản lý chiếm 3,03%[1]. Hiện nay theo thống kê của Công an huyện, loại ma tuý sử dụng nhiều nhất là heroin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và yếu tố liên quan tại Kinh Môn, Hải Dương 2015" cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu quả của phương pháp điều trị Methadone trong việc kiểm soát nghiện chất dạng thuốc phiện, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị tại địa bàn Kinh Môn, Hải Dương. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà quản lý y tế đánh giá hiệu quả của chương trình Methadone mà còn cung cấp thông tin hữu ích để cải thiện các chiến lược can thiệp trong tương lai.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến điều trị và quản lý bệnh nhân, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với những bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về thách thức xã hội trong quá trình điều trị bệnh nhân. Ngoài ra, Luận văn thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ quản lý tăng huyết áp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc quản lý bệnh mãn tính trong cộng đồng. Cuối cùng, Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp là tài liệu hữu ích để tìm hiểu về yếu tố tuân thủ điều trị, một khía cạnh quan trọng trong quản lý bệnh nhân.