ĐẶT VẤN ĐỀ Tên xương thuyền xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là thuyền, tham chiếu đến hình dạng của xương. Gãy xương thuyền cấp tính được mô tả lần đầu tiên bởi Cousin và Destot vào năm 1889, và sau đó với những mô tả tiếp theo của Mouchet và Jeanne vào năm 1919. [16], [52], [54] Gãy xương thuyền cấp tính chiếm từ 2% đến 3% trong số tất cả các trường hợp gãy xương, khoảng 10% trong số các gãy xương bàn tay và từ 60% đến 80% của tất cả các gãy xương cổ tay. Việc điều trị gãy xương thuyền có nhiều phương pháp và cũng vẫn còn nhiều tranh cãi.
Tuổi dao động từ 18 đến 45 tuổi, với nam giới trẻ hơn đáng kể tại thời điểm bị thương so với nữ giới cho thấy gãy xương thuyền thường ở độ tuổi lao động, trẻ, năng động. Cơ chế thường là té chống tay. [52] Một số tác giả cho rằng bất động bó bột là phương pháp tốt để điều trị cho gãy xương thuyền không di lệch hoặc di lệch tối thiểu, tỷ lệ di lệch thứ phát trong bột thay đổi từ 3% đến 20%. [16], [27] Gãy xương thuyền ít di lệch hoặc không di lệch được điều trị bằng bất động bó bột kéo dài có thể dẫn đến cứng khớp tạm thời và yếu cơ, ngoài việc chậm trễ quay lại công việc và hoạt động thể thao.
Herbert và Fisher báo cáo tỷ lệ không lành xương sau điều trị bảo tồn ở mức 50% và sau đó đã ủng hộ việc sử dụng cố định bên trong cho gãy xương thuyền với một ốc vít được thiết kế mới. Gần đây, đã có một số nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng cố định sớm cho gãy xương không di lệch hoặc di lệch tối thiểu[16]. Việc cố định xương thuyền bằng phẫu thuật với vít không đầu qua đường mổ nhỏ, ít xâm lấn, ít biến chứng, giúp cho bệnh nhân quay lại làm việc và hoạt động thể thao sớm hơn, giúp lành xương nhanh, không gây sẹo cứng và đau sau mổ. Gần đây một số tác giả đề xướng cố định gãy xương thuyền bằng vít chuyên dùng xuyên qua da đã cho thấy tỷ lệ lành xương là 100% đối với gãy xương cố định.
2 bằng phẫu thuật từ cả hai cách tiếp cận lòng bàn tay và mặt lưng. Trong nghiên cứu của McQueen và cộng sự cũng có tỷ lệ lành xương 100% và ông đã khuyến cáo rằng tất cả các bệnh nhân đang hoạt động bị gãy xương thuyền nên được cố định xương qua da. Tác giả Mao HJ, Luu ZX và Zhongguo, tạp chí CTCH Trung Quốc 01/03/2014, báo cáo 15 trường hợp gãy xương thuyền được điều trị bằng cố định vít Herbert xuyên qua da từ tháng 4/2008- tháng 9/2012. Tất cả thuộc loại gãy B2 theo phân loại Herbert, đánh giá chức năng theo điểm số Krimmer.
Tất cả các bệnh nhân đều đạt liền xương với thời gian trung bình là 10 tuần. Điểm số Krimmer thì 14 trường hợp đạt điểm 100 và 1 trường hợp đạt 90; không có ghi nhận biến chứng nào. Tác giả Nguyễn Thúc Bội Châu (2016) nghiên cứu 187 trường hợp Gãy xương thuyền cổ tay, có 171 trường hợp lành xương, đạt tỉ lệ 91,4%. Bằng phương pháp mổ mở.
Thời gian gần đây, trong nước cũng có một số báo cáo khác về điều trị phẫu thuật xương thuyền, trong đó có cả phẫu thuật kết hợp xương bằng vít xốp xuyên qua da, tuy nhiên chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh nào, do đó học viên chọn đề tài : Kết quả điều trị gãy xương thuyền ít di lệch bằng vít rỗng không đầu nén ép ngược xuyên qua da. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mục tiêu chung: Đánh giá hiệu quả lành xương trong phẫu thuật kết hợp xương điều trị gãy xương thuyền ít di lệch với vít rỗng không đầu nén ép ngược xuyên qua da. Mục tiêu cụ thể: a) Đánh giá sự lành xương trên phim X-quang và thời gian lành xương b) Đánh giá sự phục hồi chức năng cổ bàn tay sau mổ.
c) Đánh giá các tai biến trong điều trị. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QU N TÀI IỆU 1. Giải phẫu và giải phẫu ứng dụng của xƣơng thuyền [16] 1. Giải phẫu - Xương thuyền là xương nằm ngoài nhất của hàng trên xương cổ tay, có hình dạng không đều, giống hình hạt đậu phộng hơn là chiếc thuyền.
Gồm hai phần chồng lên nhau, phần gần gần như đứng dọc hơi nghiêng xuống dưới ra ngoài, phần xa gần như nằm ngang chéo ra trước và ra ngoài; nối giữa 2 phần phần xa là cực eo. - Sụn khớp chiếm 80 % bề mặt xương thuyền, gồm 6 mặt: 3 mặt có sụn khớp là mặt trên, mặt dưới và mặt trong. 3 mặt còn lại không có sụn khớp là mặt lòng mặt lưng và mặt ngoài. + Mặt lòng không có sụn khớp, nhám và có hình dạng tam giác đỉnh ở đầu gần, hơi rộng ở đầu xa và kéo dài ra ở lồi củ.
Trên mặt này có các dây chằng bám : dây chằng quay -thuyền và dây chằng thuyền- tháp, dây chằng thuyền -cả. + Mặt lưng : không có sụn khớp và rất hẹp, là nơi bám của dây chằng quay thuyền mặt lưng, và dây chằng thuyền- tháp. Có rãnh xoắn, xù xì chéo xuống dưới và ra ngoài chứa nhiều lỗ thủng. + Mặt ngoài không có sụn khớp hẹp và nhám, không giới hạn rõ có nơi khuyết vào là nơi động mạch quay đi qua, là nơi bám của dây chằng quay cổ tay bên ngoài.
+ Mặt trên lồi, hình tam giác khớp với đầu dưới xương quay. + Mặt dưới lồi có hai mặt ngăn cách bởi gờ nhẵn : mặt ngoài khớp với xương thang và mặt trong khớp với xương thê. + Mặt trong: có sụn khớp, gồm hai phần nhỏ: phần gần khớp với xương bán nguyệt, phần xa rộng hơn và lõm khớp với đầu cổ phần gần thân xương cả. - Lồi củ xương thuyền ở chổ nối phần xa của mặt lưng và mặt lòng là nơi bám.
4 của dây chằng vòng trước cổ tay, một phần của dây chằng cổ tay bên ngoài và vài thớ sợi gân dạng ngắn ngón. Giải phẫu ứng dụng [16] - Xương thuyền nằm ở hàng gần cổ tay trên mặt hướng tâm của cổ tay và là một xương hình ống nhỏ, không đều hình chữ S. Nó nằm hoàn toàn trong khớp cổ tay và nằm trên mặt phẳng 45 độ theo trục dọc và trục ngang của cổ tay. Có các khớp với xương thang ở mặt khớp xa và khớp với xương quay ở bề mặt gần và bên, xương cả ở bề mặt giữa và xương nguyệt ở bề mặt trong.
Bề mặt khớp gần lồi và khớp với xương quay. Đầu xương cả khớp nối với một khe trên màng chắn nằm trên vùng của xương thuyền và do đó tạo ra sự phù hợp giống như ổ cắm cho đầu xương cả. Hình ảnh xương thuyền nhẹ nhàng phát ra và uốn cong ở xa sao cho cực xa nằm nghiêng một góc so với cực gần. - Ở bề mặt khớp xa, có hai mặt khớp riêng biệt cho hình thang và hình thang tạo thành khớp.
- Với bề mặt được bao phủ bởi sụn khớp (trên 80%) màng xương bị giảm có khả năng làm giảm khả năng chữa lành màng xương và tăng xu hướng chậm lành và không lành xương. [16], [45] - Xương thuyền có rãnh trên bề mặt lưng không có cấu trúc của nó, dọc theo đó các mạch sống quan trọng của sống lưng đi ngang qua. Đường gờ là điểm chèn cho cả thành phần lưng của dây chằng bao khớp và dây chằng. - Các dây chằng đính kèm của màng đệm chủ yếu được tìm thấy trên mặt lưng không có khớp và bao khớp của cổ tay.Thông qua các khớp nối này và các phần đính kèm mô mềm, xương thuyền (XT) hoạt động như một "cầu nối" khớp cổ tay giữa liên kết và đồng bộ hóa chuyển động của các hàng cổ tay gần và xa như một phần của đoạn xen kẽ chính., đồng thời cung cấp sự ổn định cho khớp giữa cổ tay.
thường do nguồn cung cấp máu ngược dòng ít ỏi, chủ yếu thông qua các mô mềm đính kèm qua hai cuống mạch máu có nguồn gốc đến xương thuyền từ các nhánh của động mạch quay. - Nhánh mặt lưng: đi vào qua lổ nhỏ dọc theo rãnh xoắn ốc và sống lưng của. 5 XT và cung cấp 70% đến 80% phần gần XT, bao gồm cả cực gần. - Nhánh mặt lòng: đi vào qua lồi củ XT và cung cấp 20% đến 30% phần còn lại cho XT [16], [45].
Hình ảnh bề mặt sụn khớp xương thuyền. Nguồn cung cấp máu cho xương thuyền (Nguồn: AO Surgery Reference) [45], [52]. 6 Khả năng khó lành của xương thuyền thường được gán cho nguồn cung cấp máu ít ỏi, ngược dòng. Thông qua các mô mềm, thông qua hai cuống mạch máu bắt nguồn từ các nhánh của gan tay của động mạch quay.
- Nhánh lưng: nhập thông qua các nhánh nhỏ dọc theo rãnh xoắn ốc và sườn lưng của xương thuyền và cung cấp máu 70% đến 80% cho xương thuyền. - Nhánh mặt lòng cực gần: cung cấp 20% đến 30% máu cho xương thuyền. Hình ảnh tỉ lệ lành xương thuyền tại các vị trí gãy xương thuyền (Nguồn: Avascular Necrosis of the Scaphoid Bone www. Cơ chế chấn thƣơng Cơ chế chấn thương là té chống bàn tay quá duỗi hơn 950 và nghiêng quay hơn 100 Cơ chế chấn thương của gãy xương thuyền cấp tính chiếm từ 2% đến 3% của tất cả các ca gãy xương, khoảng 10% của tất cả các ca gãy xương ở bàn tay và từ 60% đến 80% của tất cả các trường hợp gãy xương cổ tay.
Tuổi trong tài liệu dao động từ 25 đến 35 tuổi, với nam giới trẻ hơn đáng kể tại thời điểm bị thương so với nữ giới cho thấy gãy xương thuyền, Nam giới chiếm ưu thế với tỷ lệ nam nữ xấp xỉ 2,5: 1. Cơ chế té chống tay gây nên gãy xương thuyền (Nguồn: ROCKWOOD trang 2600) 1. Phân loại gãy xƣơng thuyền [16], [58], [61] Gãy xương đơn giản và gãy xương nhiều mảnh (hơn ba đoạn) được phân biệt theo phân loại OTA. Khu trú của ổ gãy chính cũng được phân biệt: cực gần, cực eo, cực xa.
Hệ thống phân loại tương tự được đưa ra bởi Russo hoặc Mayo, dựa trên đường đứt gãy. Phân loại AO của gãy xương thuyền, được đưa ra bởi Petracic và Siebert 1989, phân biệt gãy loại A (hình xoắn), loại B (đơn giản, chéo hoặc dọc qua thân), và loại C (đứt gãy). Xử trí gãy xương thuyền cấp tính lý tưởng nên được định hướng dựa trên khái niệm về sự ổn định của gãy xương, tổn thương dây chằng liên quan và nguy cơ suy giảm nguồn cung cấp máu, hơn là hướng của đường gãy hoặc vị trí của vết gãy trong xương thuyền.