CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VỚI CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG: 1. Những vấn đề cơ bản đổi mới giáo dục và đào tạo ở phổ thông: 1. Những định hướng chung: Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”; “Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình GD với kết quả thi”. Để cụ thể hóa từng bước trong chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011- 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/1/2011 về “Phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2010-2020”, định hướng đào tạo và nhu cầu nhân lực của 5 vùng kinh tế của cả nước trong đó có vùng Trung du miền núi phía Bắc - địa bàn cư trú của hầu hết đồng bào dân tộc ít người.
Theo đó, đến năm 2020, tổng số nhân lực làm việc của vùng khoảng 8,5 triệu lao động. Giai đoạn 2011-2020, cần tập trung đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, chủ lực của vùng là: Sản xuất, chế biến nông sản, công nghiệp chế biến khoáng sản, thủy điện, công nghiệp cơ khí, du lịch, kinh tế cửu khẩu…Để hoàn thành được mục tiêu chiến lược đó, đòi hỏi ngành GD cùng toàn thể hệ thống chính trị xã hội cùng chung tay, góp sức. Trong đó, phải kể tới vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống các trường THPT. Thực hiện đường lối, chính sách của đảng và Nhà nước trong lĩnh vực GD và đào tạo, các trường THPT có nhiệm vụ, nâng cao trình độ văn hóa cho HS có đủ kiến thức để vào học các trường ĐH, CĐ trong cả nước.
Chính vì vậy, hệ thống các trường THPT là cái nôi bồi dưỡng kiến thức, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao cho nước ta. Chính vì vậy, thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện nền GD là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong bối cảnh và yêu cầu mới của thời đại, nhằm “tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập 11 của nhân dân, GD con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”. Đổi mới nội dung chương trình DH phổ thông: Hiện nay, chương trình DH nói chung và chương trình DH Địa lí ở hệ THPT nói riêng chủ yếu vẫn đang là chương trình DH truyền thống - chương trình GD “định hướng nội dung” DH hay “định hướng đầu vào” (điều khiển đầu vào). Đặc điểm cơ bản của chương trình GD định hướng ND là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình DH.
Những ND của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng. Người ta chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau. Ưu điểm của chương trình DH định hướng ND là truyền thụ cho người hệ thống tri thức một cách khoa học và hệ thống. Tuy nhiên, chương trình GD định hướng ND chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
Mục tiêu DH trong chương trình định hướng ND được đưa ra một cách chung chung, việc quản lí chất lượng GD ở đây tập trung vào “điều khiển đầu vào” là ND DH. Do vậy, chương trình DH định hướng ND không còn thích hợp do những nguyên nhân chủ yếu sau: - Tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng, việc quy định cứng nhắc những ND chi tiết trong chương trình DH dẫn đến tình trạng ND chương trình DH nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại. Do đó việc rèn luyện PP HT ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho người học có khả năng học tập suốt đời. - Chương trình DH định hướng ND dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn.
- Do PPDH mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm GD là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động. Do đó chương trình GD này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo và tính năng động. Khác với chương trình định hướng ND truyền thống, chương trình DH định hướng 12 năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình DH, hình thành và phát triển các năng lực cho HS đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn. Chương trình DH định hướng năng lực không quy định những nội dung DH chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình GD.
Trên cở sở đó, chương trình đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn ND, PP, tổ chức và đánh giá kết quả DH nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu DH tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình.
Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lí chất lượng GD theo định hướng kết quả đầu ra. Ưu điểm của chương trình GD định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lí chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến ND DH thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra chất lượng GD không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải từng bước chuyển từ chương trình GD theo định hướng ND sang chương trình GD theo định hướng năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền GD, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong xu thế hội nhập sâu rộng của nền KT-XH đất nước. Trước khi chuyển sang chương trình GD theo năng lực, thì việc áp dụng các PPDH tích cực, trong đó có PP TLN trong chương trình GD định hướng ND như hiện nay sẽ góp phần vào đổi mới PPDH và từng bước hình thành và phát triển các năng lực cho HS như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.Đây là vấn đề thực sự có ý nghĩa thiết thực trong quá trình GD cho HS. Từ đó, từng bước giúp HS tiếp cận dần với PP HT và GD ở bậc ĐH đó là luôn coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Đổi mới PPDH nhằm chú trọng phát triển năng lực của HS: Cùng với đổi mới ND, chương trình tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PP dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, phát triển năng lực sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, 13 ghi nhớ máy móc.
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Đổi mới PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
- Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực là: + Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học.Trên cơ sở đó, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. + Chọn lựa một cách linh hoạt các PP chung và PP đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên, dù sử dụng bất kì PP nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”. + Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức DH.
Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ở ngoài lớp. Cần chuẩn bị tốt về PP đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. + Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị DH môn học tối thiểu đã quy định. Có thể sử dụng các đồ dùng DH tự làm nếu xét thấy cần thiết với ND học và phù hợp với đối tượng HS.
Tích cực ứng dụng CNTT trong DH.