Khóa luận: Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP CN Nhựa Phú Lâm

Khóa luận tốt nghiệp phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Công nghiệp Nhựa Phú Lâm.

Chuyên ngành

Kế toán - Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2016

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh kế toán nguyên vật liệu tại doanh nghiệp sản xuất

Trong một doanh nghiệp sản xuất như Công ty Cổ phần Công nghiệp Nhựa Phú Lâm, nguyên vật liệu (NVL) là yếu tố đầu vào cốt lõi, quyết định trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm nhựa. Chi phí NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, do đó, việc tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu một cách khoa học và chính xác có ý nghĩa sống còn. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc ghi chép sổ sách mà còn là công cụ quản lý hiệu quả, giúp ban lãnh đạo kiểm soát chi phí, tối ưu hóa quy trình và đưa ra các quyết định kinh doanh chiến lược. Kế toán NVL chịu trách nhiệm theo dõi, phản ánh đầy đủ và kịp thời tình hình nhập, xuất, tồn kho cả về số lượng và giá trị. Theo luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Huế, tại Nhựa Phú Lâm, công tác này càng trở nên quan trọng khi công ty vận hành các dây chuyền sản xuất vải giả da, màng nhựa PVC đòi hỏi sự đa dạng về chủng loại vật tư. Một hệ thống kế toán NVL hiệu quả phải đảm bảo cung cấp thông tin chính xác cho việc lập báo cáo tồn kho, tính toán định mức tiêu hao vật tư, và là cơ sở để kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán, đặc biệt là các quy định trong kế toán theo Thông tư 200, là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của các báo cáo tài chính. Quản lý tốt NVL giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng ứ đọng vốn, thất thoát, lãng phí, đồng thời đảm bảo nguồn cung ổn định cho sản xuất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

1.1. Vai trò của công tác quản lý kho và nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và chuyển toàn bộ giá trị vào giá thành sản phẩm nhựa. Vì vậy, công tác quản lý kho và vật liệu đóng vai trò nền tảng. Nó không chỉ đảm bảo an toàn, tránh thất thoát mà còn giúp duy trì hoạt động sản xuất liên tục. Một quy trình quản lý kho chặt chẽ, từ khâu lập phiếu nhập kho đến phiếu xuất kho, giúp theo dõi sát sao dòng luân chuyển vật tư. Việc này hỗ trợ kế toán trong việc kiểm kê nguyên vật liệu định kỳ, đối chiếu giữa sổ sách và thực tế, từ đó phát hiện kịp thời các chênh lệch và có biện pháp xử lý. Tại các doanh nghiệp có quy mô lớn như Nhựa Phú Lâm, việc phân loại NVL thành các nhóm (vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu) giúp đơn giản hóa việc theo dõi và quản lý.

1.2. Nhiệm vụ chính của kế toán chi phí sản xuất và NVL

Nhiệm vụ trọng tâm của kế toán nguyên vật liệu là ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ và kịp thời số lượng, chất lượng và giá trị của từng loại NVL nhập, xuất, tồn kho. Kế toán phải tính toán đúng giá trị thực tế của NVL nhập kho và áp dụng nhất quán một phương pháp tính giá xuất kho phù hợp. Những thông tin này là cơ sở quan trọng để kế toán chi phí sản xuất tập hợp chi phí theo từng đối tượng. Ngoài ra, kế toán còn phải tham gia vào việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các định mức tiêu hao vật tư, kiểm soát việc bảo quản và sử dụng NVL, từ đó đề xuất các biện pháp ngăn ngừa lãng phí, góp phần hạ giá thành sản phẩm và tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.

II. Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Nhựa Phú Lâm

Dựa trên phân tích từ luận văn tốt nghiệp năm 2016, Công ty Cổ phần Công nghiệp Nhựa Phú Lâm đã xây dựng được một quy trình kế toán tương đối hoàn chỉnh. Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để theo dõi hàng tồn kho, cho phép xác định giá trị vật tư tồn kho tại bất kỳ thời điểm nào. Đây là phương pháp phù hợp với một doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn và hoạt động liên tục. Về phương pháp tính giá xuất kho, công ty lựa chọn phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ (theo tháng), giúp đơn giản hóa công tác tính toán và ổn định giá trị vật tư xuất dùng trong kỳ. Tuy nhiên, thực trạng kế toán tại công ty vẫn còn một số điểm cần cải thiện. Đáng chú ý nhất là việc công ty chưa xây dựng một hệ thống danh điểm vật tư chi tiết và khoa học. Điều này gây ra một số khó khăn trong việc theo dõi chi tiết từng loại vật tư trên sổ chi tiết vật tư và có thể dẫn đến nhầm lẫn. Công tác quản lý kho đôi khi chưa được phối hợp nhịp nhàng với phòng kế toán, dẫn đến việc đối chiếu số liệu cuối kỳ tốn nhiều thời gian. Mặc dù quy trình nhập, xuất kho được thực hiện qua phiếu nhập khophiếu xuất kho, việc kiểm soát chặt chẽ các định mức tiêu hao vẫn là một thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kiểm soát giá thành sản phẩm nhựa.

2.1. Phân tích quy trình kế toán nguyên vật liệu đang áp dụng

Tại Nhựa Phú Lâm, quy trình kế toán nguyên vật liệu bắt đầu khi phòng vật tư lập kế hoạch mua hàng dựa trên nhu cầu sản xuất. Khi hàng về, thủ kho và bộ phận kỹ thuật kiểm tra số lượng, chất lượng trước khi lập phiếu nhập kho. Kế toán dựa vào hóa đơn và phiếu nhập kho để hạch toán nguyên vật liệu vào tài khoản 152. Khi có yêu cầu từ phân xưởng, kế toán lập phiếu xuất kho và ghi nhận chi phí. Cuối tháng, kế toán tính đơn giá bình quân để xác định giá trị NVL xuất dùng và tồn kho. Quy trình này tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của kế toán theo Thông tư 200, tuy nhiên, việc xử lý chứng từ và luân chuyển thông tin giữa các bộ phận đôi khi còn chậm, ảnh hưởng đến tính kịp thời của số liệu.

2.2. Những ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý kho

Ưu điểm lớn trong công tác quản lý kho tại Nhựa Phú Lâm là việc phân chia kho bãi hợp lý, có thủ kho chuyên trách theo dõi thẻ kho cho từng loại vật tư. Tuy nhiên, hạn chế nằm ở việc chưa ứng dụng công nghệ thông tin một cách triệt để. Việc ghi chép thẻ kho thủ công và đối chiếu với sổ chi tiết vật tư của phòng kế toán vào cuối kỳ làm tăng khối lượng công việc và tiềm ẩn nguy cơ sai sót. Hơn nữa, việc kiểm kê nguyên vật liệu chưa được thực hiện thường xuyên mà chủ yếu tập trung vào cuối kỳ, làm giảm khả năng phát hiện sớm các vấn đề như hao hụt, mất mát hay vật tư kém phẩm chất, ảnh hưởng đến việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

III. Hướng dẫn hạch toán nguyên vật liệu nhập kho tại Nhựa Phú Lâm

Quá trình hạch toán nguyên vật liệu nhập kho là bước khởi đầu quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ chu trình kế toán chi phí sản xuất. Tại Công ty Nhựa Phú Lâm, NVL chủ yếu được nhập từ nguồn mua ngoài. Theo quy định của kế toán theo Thông tư 200, giá gốc của NVL nhập kho được xác định bao gồm giá mua trên hóa đơn (chưa bao gồm thuế GTGT được khấu trừ), các loại thuế không hoàn lại (nếu có), chi phí vận chuyển, bốc dỡ và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc thu mua. Kế toán phải kiểm tra kỹ tính hợp lệ, hợp pháp của bộ chứng từ, bao gồm hóa đơn GTGT, hợp đồng, biên bản giao nhận. Sau khi thủ kho xác nhận số lượng thực nhập trên phiếu nhập kho, kế toán tiến hành ghi sổ. Bút toán cơ bản là ghi Nợ tài khoản 152 – Nguyên liệu, vật liệu, Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ, và ghi Có các tài khoản liên quan như TK 331 (phải trả người bán), TK 111, 112 (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng). Việc xác định chính xác giá trị nhập kho là tiền đề để tính đúng giá trị xuất kho và giá thành sản phẩm nhựa sau này. Do đó, mọi chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng cần được tập hợp đầy đủ và phân bổ hợp lý.

3.1. Quy trình lập phiếu nhập kho và các chứng từ liên quan

Khi NVL về đến công ty, thủ tục nhập kho được tiến hành chặt chẽ. Căn cứ vào hóa đơn GTGT và thực tế hàng hóa, bộ phận nhận hàng sẽ lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư”. Sau đó, kế toán lập phiếu nhập kho, thường thành 3 liên: một liên lưu tại cuống, một liên giao thủ kho để ghi thẻ kho, và một liên chuyển cho phòng kế toán làm căn cứ ghi sổ. Phiếu nhập kho phải có đầy đủ chữ ký của người giao hàng, thủ kho và kế toán trưởng. Đây là chứng từ gốc quan trọng để hạch toán tăng giá trị quản lý hàng tồn kho và là cơ sở để thanh toán cho nhà cung cấp.

3.2. Sơ đồ hạch toán NVL và việc sử dụng tài khoản 152

Sơ đồ hạch toán NVL cho nghiệp vụ mua ngoài được thể hiện qua các bút toán. Khi mua NVL chưa thanh toán, kế toán định khoản: Nợ TK 152 (giá chưa thuế), Nợ TK 133 (thuế GTGT), Có TK 331 (tổng giá thanh toán). Tài khoản 152 được sử dụng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của NVL trong kho. Số dư bên Nợ của tài khoản này thể hiện giá trị NVL tồn kho cuối kỳ. Việc theo dõi chi tiết tài khoản 152 cho từng loại vật tư trên sổ chi tiết vật tư là bắt buộc để đảm bảo số liệu trên sổ tổng hợp và sổ chi tiết luôn khớp nhau, cung cấp thông tin đáng tin cậy cho quản lý.

IV. Phương pháp tính giá xuất kho NVL và ảnh hưởng đến giá thành

Việc lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị NVL xuất dùng cho sản xuất và giá trị tồn kho cuối kỳ, từ đó tác động đến giá thành sản phẩm nhựa và lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo tài liệu nghiên cứu, Công ty Nhựa Phú Lâm đang áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ. Theo phương pháp này, vào cuối kỳ kế toán (tháng), kế toán sẽ tính một đơn giá bình quân duy nhất cho mỗi loại vật tư dựa trên giá trị tồn đầu kỳ và tổng giá trị nhập trong kỳ. Đơn giá này sau đó được sử dụng để tính giá trị cho toàn bộ lượng vật tư đã xuất kho trong kỳ. Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ thực hiện, giúp san bằng các biến động về giá cả NVL trong kỳ. Tuy nhiên, nhược điểm là công việc tính toán bị dồn vào cuối kỳ, làm chậm quá trình cung cấp thông tin và xác định giá thành. Khi có yêu cầu xuất NVL, phân xưởng lập giấy đề nghị, sau đó kế toán lập phiếu xuất khohạch toán nguyên vật liệu vào các tài khoản chi phí liên quan như TK 621 (chi phí NVL trực tiếp), TK 627 (chi phí sản xuất chung).

4.1. Cách tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền

Công thức tính đơn giá bình quân gia quyền được xác định như sau: Đơn giá bình quân = (Giá trị NVL tồn đầu kỳ + Tổng giá trị NVL nhập trong kỳ) / (Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Tổng số lượng NVL nhập trong kỳ). Dựa trên đơn giá này, giá trị NVL xuất kho được tính bằng cách nhân đơn giá bình quân với tổng số lượng NVL thực xuất trong kỳ. Phương pháp này đòi hỏi kế toán tập hợp chi phí phải có đầy đủ chứng từ nhập kho trong kỳ trước khi tiến hành tính toán, đảm bảo tính chính xác của báo cáo tồn kho.

4.2. Hạch toán chi phí NVL xuất dùng cho sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán sẽ hạch toán chi phí NVL vào các đối tượng sử dụng. Nếu NVL dùng trực tiếp để sản xuất sản phẩm, kế toán ghi: Nợ TK 621, Có TK 152. Nếu NVL dùng cho quản lý phân xưởng, kế toán ghi: Nợ TK 627, Có TK 152. Nếu dùng cho bộ phận bán hàng hoặc quản lý doanh nghiệp, sẽ hạch toán vào Nợ TK 641 hoặc 642. Việc phân bổ chính xác chi phí NVL vào đúng đối tượng chịu chi phí là yếu tố then chốt để tính toán giá thành sản phẩm nhựa một cách trung thực và hợp lý, phục vụ cho việc định giá bán và phân tích hiệu quả kinh doanh.

V. Top giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tối ưu

Để nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho và tối ưu hóa công tác kế toán nguyên vật liệu, Công ty Nhựa Phú Lâm cần xem xét triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hoàn thiện. Dựa trên những phân tích về thực trạng kế toán, một trong những giải pháp cấp thiết nhất là xây dựng và áp dụng hệ thống mã hóa (danh điểm) vật tư một cách khoa học. Mỗi loại NVL cần được gán một mã duy nhất, giúp việc theo dõi trên sổ chi tiết vật tư và quản lý trên phần mềm kế toán trở nên chính xác, tránh nhầm lẫn. Bên cạnh đó, công ty nên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Việc sử dụng phần mềm kế toán có phân hệ quản lý kho chuyên dụng sẽ giúp tự động hóa quá trình lập phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, tính giá và đối chiếu số liệu giữa thủ kho và kế toán theo thời gian thực. Điều này không chỉ giảm thiểu sai sót do nhập liệu thủ công mà còn cung cấp thông tin kịp thời cho ban lãnh đạo. Tăng cường sự phối hợp giữa các phòng ban, đặc biệt là giữa phòng kế toán, phòng vật tư và các phân xưởng sản xuất, là một giải pháp quan trọng khác. Việc tổ chức các cuộc họp định kỳ để trao đổi thông tin về tình hình sử dụng và định mức tiêu hao vật tư sẽ giúp kiểm soát chi phí hiệu quả hơn.

5.1. Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống sổ sách và chứng từ

Một giải pháp hoàn thiện quan trọng là chuẩn hóa hệ thống chứng từ và quy trình luân chuyển. Cần quy định rõ ràng về thời gian và trách nhiệm của từng bộ phận trong việc lập, kiểm tra và chuyển giao chứng từ. Đối với hệ thống sổ sách, ngoài sổ chi tiết vật tư, công ty nên mở thêm các sổ theo dõi chi tiết theo từng nhà cung cấp hoặc theo từng hợp đồng mua hàng lớn. Điều này giúp việc đối chiếu công nợ và quản lý nguồn cung trở nên dễ dàng hơn. Đồng thời, việc áp dụng chữ ký số để duyệt chứng từ điện tử sẽ rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao tính bảo mật.

5.2. Nâng cao vai trò kiểm kê và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Công ty cần thay đổi tần suất kiểm kê nguyên vật liệu, chuyển từ kiểm kê định kỳ cuối năm sang kiểm kê đột xuất hoặc luân phiên theo từng nhóm vật tư quan trọng. Việc này giúp phát hiện sớm chênh lệch, xử lý kịp thời NVL tồn kho lâu ngày, kém phẩm chất. Kết quả kiểm kê là cơ sở đáng tin cậy để kế toán trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo đúng quy định, đảm bảo báo cáo tồn kho phản ánh đúng giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản, tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán và cung cấp một bức tranh tài chính trung thực hơn cho luận văn tốt nghiệp và các nhà đầu tư.

04/10/2025
Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần công nghiệp nhựa phú lâm khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất 1.1: Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là bộ phận cơ bản cấu thành thực tế sản phẩm. Trong quá trình sản xuất,vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, bị tiêu hao và chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm. Chi phí về các loại nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Do vậy, tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu đảm bảo cho việc sử dụng tiết kiệm và hiệu qủa vật liệu nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng nguyên vật liệu có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Kế toán là công cụ phục vụ cho quản lý nguyên vật liệu. Nó góp phần kiểm soát, tránh thất thoát, lãng phí nguyên vật liệu ở tất cả các khâu dự trữ, sử dụng, thu hồi… Kế toán nguyên vật liệu giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp nắm được tình hình vật tư để chỉ đạo tiến độ sản xuất. Hạch toán nguyên vật liệu có đảm bảo chính xác, kịp thời và đầy đủ tình hình thu mua, nhập, xuất, dự trữ vật liệu.

Tính chính xác của hạch toán kế toán nguyên vật liệu ảnh hưởng đến tính chính xác của giá thành sản phẩm. Vì vậy cần thiết phải tổ chức công tác hạch toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp và có làm tốt điều này mới tạo được tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu lợi nhuận.2: Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu a,Khái niệm Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khác với tư liệu lao động nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì Nguyễn Thị Huế - Lớp QT1601K 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP sản xuất nhất định, giá trị của nó chuyển hết vào giá trị sản phẩm mới làm ra. Chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí sản xuất để tạo ra sản phẩm.

Nguyên vật liệu có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại thì sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu, nguyên vật liệu mua về mới tận dụng được tối đa vì vậy chi phí nguyên vật liệu được hạ thấp, giá thành hạ làm cho doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận cao, tồn tại được trong cơ chế thị trường. Nguyên vật liệu là một bộ phận cơ bản của hàng tồn kho là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp và quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm b,Đặc điểm Khi tham gia quá trình sản xuất nguyên vật liệu có những đặc điểm sau: + Về mặt hiện vật: Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định. Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh dưới tác động của lao động và tư liệu lao động nguyên vật liệu sẽ bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành thực thể của sản phẩm + Về mặt giá trị: Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh giá trị nguyên vật liệu được chuyển dịch một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm mới tạo ra Như vậy, nguyên vật liệu chiếm vị trí hết sức quan trọng bởi nó là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể sản phẩm 1. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.

Xuất phát từ vị trí yêu cầu quản lý vật liệu cũng như vai trò của kế toán. Để đáp ứng nhu cầu quản lí chặt chẽ nguyên vật liệu, tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: + Theo dõi, ghi chép, phản ánh đầy đủ, trung thực số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị và thời gian cung cấp nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho hay tồn kho.Tính toán đúng đắn giá trị vốn, hoặc giá thành thực tế của nguyên vật liệu nhập kho, hoặc xuất kho để cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài chính và quản lí doanh nghiệp. Nguyễn Thị Huế - Lớp QT1601K 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP + Tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ sách kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng tại doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu đầy đủ kịp thời và tình hình tăng giảm của vật tư trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp thông tin để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh, xác định giá vốn hàng bán. Thực hiện việc kiểm kê nguyên vật liệu theo yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp + Kiểm tra tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về mua vật tư , hàng hóa phục vụ cho sản xuất + Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu.

Từ đó phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất, giúp cho việc hạch toán xác định chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu thực tế đưa vào sản xuất. Phân bổ chính xác nguyên vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng để từ đó giúp cho việc tính giá thành được chính xác.4: Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu 1.1:Phân loại Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau, mỗi loại lại có quy cách, tính chất, phẩm chất , vai trò công dụng khác nhau và đươc bảo quản với các điều kiện khác nhau. Chính vì vậy muốn quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết từng loại, từng thứ nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành phân loại chúng. Việc phân loại vật liệu tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp sản xuất cụ thể thuộc từng nghành sản xuất, tuỳ thuộc vào chức năng kinh tế, chức năng của vật liệu mà chúng được chia thành các loại sau: * Phân loại theo nội dung kinh tế và công dụng: - Vật liệu chính: đối với doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là những nguyên liệu, vật liệu cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm.

Ví dụ đối với doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo thì bột, đường là nguyên vật liệu chính. Đối với doanh nghiệp dệt thì nguyên vật liệu chính là các loại sợi dệt khác nhau.Vì vậy, khái niệm nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể. Trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ không đặt ra khái niệm nguyên vật liệu chính, phụ. Nguyên vật liệu chính cũng Nguyễn Thị Huế - Lớp QT1601K 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP bao gồm cả bán thành phẩm mua vào với mục đích tiếp tục sản xuất chế tạo ra sản phẩm, hàng hóa.

Ví dụ: các doanh nghiệp có thể mua các loại vải thô khác nhau để nhuộm, in nhằm cho ra đời các loại vải khác nhau đáp ứng nhu cầu sử dụng. - Vật liệu phụ: Là những vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng, mùi vị, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm - Nhiên liệu: Là một loại vật liệu phụ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng như xăng, dầu.Ở thể rắn như các loại than đá, than bùn. Ở thể khí như ga - Phụ tùng thay thế: Là những vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, tài sản cố định, phương tiện vận tải - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu, thiết bị xây dưng cơ bản như gạch, cát đá, xi măng - Vật liệu khác: là loại vật liệu thu được trong quá trính sản xuất, thanh lí tài sản, có thể sử dụng bán ra ngoài hoặc đưa vào sản xuất khác như phôi thép, vải vụn.

* Phân loại theo nguồn hình thành thì NVL được chia thành: - Vật liệu nhập do mua ngoài. - Vật liệu nhập do tự gia công, chế biến. - Nhận vốn kinh doanh. - Nguyên vật liệu tự chế.

Cách phân loại này làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế hoạch sản xuất nguyên vật liệu, là cơ sở để xác định trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho. * Căn cứ vào mục đích sử dụng thì NVL được chia thành: - Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh - Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm. - Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán hàng, bộ phận quản lí doanh nghiệp Nguyễn Thị Huế - Lớp QT1601K 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.2: Đánh giá nguyên vật liệu Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị vật liệu theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu chân thực, thống nhất. Về nguyên tắc nguyên vật liệu nằm trong giá thành sản phẩm đồng thời nó còn thuộc tài sản lưu động nằm trong bảng cân đối kế toán.

Vì vậy phải đánh giá NVL chính xác để đảm bảo tính chính xác của giá thành và thông tin trên bảng cân đối kế toán, NVL được phản ánh trong sổ kế toán và báo cáo theo một nguyên tắc cơ bản đánh giá theo giá trị vốn thực tế. Nghĩa là khi nhập kho phải tính theo giá trị vật liệu thực tế nhập. Khi xuất kho cũng phải xác định trị giá thực tế xuất kho theo phương pháp quy định Nguyên tắc để đánh giá nguyên vật liệu - Nguyên tắc giá gốc (còn gọi là giá phí, giá thành, giá lịch sử). Tất cả các tài sản và hàng tồn kho ở doanh nghiệp được phản ánh trong sổ kế toán và báo cáo tài chính được ghi chép theo giá gốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ