Tổng quan nghiên cứu

Khu công nghiệp Long Thành được quy hoạch với tổng quy mô diện tích 488 ha tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, đóng vai trò hạt nhân phát triển trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tính đến giai đoạn khảo sát, khu công nghiệp đã thu hút 75 doanh nghiệp đăng ký đầu tư, trong đó có 58 doanh nghiệp đang hoạt động ổn định và giải quyết việc làm cho hơn 7.000 lao động. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động sản xuất công nghiệp đã tạo ra áp lực rất lớn lên môi trường sinh thái địa phương. Tổng lượng nước thải phát sinh tại khu công nghiệp đạt bình quân 7.867,8 m3/ngày đêm và khối lượng chất thải rắn phát sinh lên tới 259 tấn/tháng, đòi hỏi một cơ chế kiểm soát đồng bộ và nghiêm ngặt.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là tiến hành điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp Long Thành, nhận diện các điểm nghẽn kỹ thuật và pháp lý còn tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm chuyển đổi hạ tầng theo mô hình khu công nghiệp xanh và phát triển bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 58 cơ sở sản xuất đang vận hành tại khu công nghiệp, kết hợp khảo sát môi trường nền xung quanh địa bàn xã Tam An và An Phước trong giai đoạn 2009 - 2010. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống dữ liệu quan trắc tin cậy, hỗ trợ đơn vị quản lý hạ tầng giảm thiểu 15% đến 25% rủi ro vi phạm pháp lý môi trường và tối ưu hóa chi phí vận hành hệ thống xử lý chất thải tập trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết sinh thái công nghiệp kết hợp với mô hình khu công nghiệp sinh thái và nguyên lý phát triển bền vững. Sinh thái công nghiệp tiếp cận hệ thống sản xuất công nghiệp như một hệ sinh thái tự nhiên, nơi dòng vật chất và năng lượng được tuần hoàn khép kín, biến chất thải của quy trình này thành nguyên liệu đầu vào cho quy trình khác. Ba khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt luận văn bao gồm: kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, quản trị môi trường doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001:2004 và tỷ lệ cân bằng sinh thái hạ tầng khu công nghiệp với diện tích cây xanh tối thiểu đạt 13,43% (tương đương 65,54 ha quy hoạch).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp khung quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bao gồm QCVN 24:2009/BTNMT về nước thải công nghiệp và QCVN 08:2008/BTNMT về chất lượng nước mặt để làm thước đo đánh giá hiệu quả kiểm soát ô nhiễm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu toàn bộ đối với 58 doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp thông qua bảng hỏi chuẩn hóa nhằm thu thập dữ liệu về công nghệ sản xuất, định mức tiêu thụ nguyên liệu và lưu lượng phát thải. Quy trình quan trắc thực địa được thiết kế theo phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 7 vị trí đo chất lượng không khí, 8 vị trí quan trắc nước mặt tiếp nhận trên rạch Bà Chèo và sông Đồng Nai, 5 vị trí mẫu đất và 2 điểm nước ngầm sinh hoạt tại khu dân cư lân cận.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa điều tra định lượng và kiểm nghiệm hóa lý trong phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn APHA và TCVN là nhằm đảm bảo tính khách quan, đối chiếu chính xác giữa báo cáo tự giám sát của doanh nghiệp với hiện trạng ô nhiễm thực tế. Quá trình thu thập và xử lý chuỗi số liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 18 tháng, từ đầu năm 2009 đến giữa năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng xả thải và xử lý nước thải, tổng lượng nước cấp sử dụng của 58 doanh nghiệp đạt bình quân 10.200 m3/ngày đêm, kéo theo lượng nước thải phát sinh là 7.867,8 m3/ngày đêm (chiếm 77% lượng nước cấp). Đáng chú ý, ngành dệt nhuộm chiếm tỷ trọng chi phối từ 70% đến 80% tổng lưu lượng nước thải toàn khu công nghiệp. Có 57 doanh nghiệp đã đấu nối vào Nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất 10.000 m3/ngày đêm và 1 doanh nghiệp tự xử lý với lưu lượng 55 m3/ngày đêm. Tuy nhiên, đợt giám sát lần 1 năm 2010 ghi nhận 20 doanh nghiệp có thông số vượt tiêu chuẩn tiếp nhận, trong đó chỉ tiêu Coliform tại một số đơn vị vượt từ 55 đến 230 lần và nồng độ N-NH3 vượt từ 1,02 đến 3,5 lần.

Thứ hai, về chất thải rắn và chất thải nguy hại, tổng khối lượng phát sinh đạt 259 tấn/tháng, bao gồm 44 tấn rác thải sinh hoạt, 154 tấn rác thải công nghiệp thông thường và 61 tấn chất thải nguy hại. Mặc dù khối lượng phát sinh lớn, mới chỉ có 27 trên tổng số 58 doanh nghiệp (tương ứng 46,55%) hoàn thành thủ tục đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với cơ quan quản lý.

Thứ ba, về khí thải và tiêu thụ năng lượng, lượng nhiên liệu đốt phục vụ sản xuất mỗi tháng rất lớn với 9.350 tấn củi, 2.720 tấn than, 673.440 lít dầu FO và 97.517 lít dầu DO. Toàn khu công nghiệp có 19 cơ sở phát sinh khí thải nhưng chỉ có 2 doanh nghiệp sở hữu hệ thống xử lý khí thải được cơ quan chức năng kiểm tra và xác nhận đạt chuẩn.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu quan trắc cho thấy Nhà máy xử lý nước thải tập trung vận hành tương đối ổn định, đưa các thông số COD, BOD5, TSS về giới hạn cho phép của QCVN 24:2009/BTNMT Cột B. Tuy vậy, trong các tháng 1, 2 và 3 năm 2010, chỉ tiêu độ màu tại hồ sinh thái đầu ra vẫn vượt chuẩn từ 1,44 đến 1,67 lần do đặc tính nước thải dệt nhuộm chứa nhiều phức màu hữu cơ khó phân hủy sinh học. Khi đối chiếu kết quả này trên biểu đồ cột so sánh nồng độ ô nhiễm theo thời gian, có thể thấy rõ sự biến động đồng pha giữa sản lượng của các nhà máy nhuộm với độ màu nước thải chung.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm vi sinh và ni-tơ cục bộ tại các hố ga đấu nối là do nhiều nhà máy chưa định kỳ nạo vét bể tự hoại và thiếu hệ thống tiền xử lý hóa lý. Khi so sánh với mô hình Khu công nghiệp Long Hậu (đạt 20% quỹ đất cây xanh và sở hữu chứng chỉ ISO 14001:2004), Khu công nghiệp Long Thành mới chỉ phủ xanh được 40,7 ha trên tổng số 65,54 ha đất cây xanh theo quy hoạch, cho thấy tiềm năng phát triển hạ tầng sinh thái còn rất lớn. Các số liệu này nếu được tổng hợp thành bảng ma trận rủi ro môi trường sẽ giúp Ban quản lý phân loại chính xác các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp công nghệ và tối ưu hóa quy trình vận hành Nhà máy xử lý nước thải tập trung. Đơn vị vận hành cần bổ sung công đoạn oxy hóa bậc cao bằng ozone hoặc keo tụ nâng cao nhằm xử lý triệt để độ màu và các hợp chất ni-tơ khó phân hủy, bảo đảm 100% nước thải đầu ra đạt quy chuẩn xả thải loại A trước khi đổ ra rạch Bà Chèo. Thời gian triển khai kéo dài 12 tháng do Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành chủ trì thực hiện.

Thứ hai, siết chặt công tác thanh tra và hoàn thiện thủ tục đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Mục tiêu trong vòng 6 tháng là hướng dẫn và bắt buộc 31 doanh nghiệp còn lại phải hoàn thành đăng ký sổ chủ nguồn thải, đồng thời lắp đặt hệ thống lưu chứa đạt chuẩn kỹ thuật, chấm dứt hoàn toàn tình trạng tự ý tiêu hủy hoặc chuyển giao cho các đơn vị không có chức năng thu gom. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Ban Quản lý các Khu công nghiệp Đồng Nai phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu năng lượng và xử lý khí thải công nghiệp. Khuyến khích 19 doanh nghiệp có nguồn phát sinh khí thải chuyển đổi từ đốt than đá, củi sang sử dụng khí hóa lỏng CNG/LPG, đồng thời yêu cầu 10 cơ sở chưa có công trình xử lý phải đầu tư lắp đặt hệ thống lọc bụi túi vải và tháp hấp thụ trong lộ trình 18 tháng.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển mảng xanh sinh thái và cải tạo cảnh quan. Chủ đầu tư hạ tầng cần hoàn thiện việc trồng bổ sung cây xanh trên 24,84 ha đất quy hoạch còn lại, nâng tổng diện tích cây xanh lên 65,54 ha nhằm tạo vùng đệm cách ly sinh thái đạt tiêu chuẩn khu công nghiệp xanh trong giai đoạn 24 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các chủ đầu tư hạ tầng và Ban quản lý khu công nghiệp. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực tế về quản trị hệ thống xử lý nước thải tập trung quy mô 10.000 m3/ngày đêm, giúp hoạch định hạ tầng kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm đồng bộ.

Nhóm thứ hai là đội ngũ kỹ sư môi trường (EHS) tại 58 doanh nghiệp thứ cấp. Tài liệu hỗ trợ tra cứu các thông số kỹ thuật, định mức xả thải và quy trình đăng ký quản lý 61 tấn chất thải nguy hại phát sinh hàng tháng theo đúng quy định pháp luật.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Bảo vệ Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường. Luận văn cung cấp bộ cơ sở dữ liệu quan trắc nền chi tiết tại 8 điểm nước mặt và 7 điểm không khí phục vụ công tác thanh tra, giám sát môi trường liên vùng.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Môi trường. Đề tài đóng vai trò là một case study điển hình về việc đánh giá hiện trạng và xây dựng mô hình khu công nghiệp xanh tại các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam.

Câu hỏi thường gặp

Thách thức lớn nhất trong công tác xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Long Thành là gì? Thách thức lớn nhất là đặc thù ngành dệt nhuộm chiếm tới 70% đến 80% tổng lưu lượng nước thải phát sinh (khoảng 7.867,8 m3/ngày đêm). Nguồn thải này chứa hàm lượng chất màu hữu cơ và hóa chất trợ nhuộm rất cao, làm cho chỉ tiêu độ màu của nước thải sau xử lý từng vượt ngưỡng quy chuẩn từ 1,44 đến 1,67 lần trong giai đoạn đầu năm 2010.

Hiện trạng quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp có điểm gì đáng lưu ý? Toàn khu công nghiệp phát sinh khoảng 61 tấn chất thải nguy hại mỗi tháng từ các hoạt động dệt nhuộm, gia công kim loại và bao bì hóa chất. Mặc dù vậy, có đến 31 trên tổng số 58 doanh nghiệp đang hoạt động vẫn chưa được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ và ô nhiễm thứ cấp nếu không được quản lý chặt chẽ.

Chất lượng môi trường không khí xung quanh khu công nghiệp hiện nay ra sao? Kết quả quan trắc tại 7 vị trí trọng điểm cho thấy các chỉ tiêu nồng độ bụi, CO, SO2, NOx và tiếng ồn đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn hiện hành. Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp tiêu thụ tới 9.350 tấn củi và 2.720 tấn than mỗi tháng đòi hỏi phải kiểm soát nghiêm ngặt 19 cơ sở có lò hơi đốt nhiên liệu.

Làm thế nào để Khu công nghiệp Long Thành đạt tiêu chuẩn khu công nghiệp xanh? Khu công nghiệp cần nhanh chóng hoàn thành phủ xanh 24,84 ha đất còn lại để đạt 65,54 ha diện tích cây xanh theo quy hoạch, đồng thời áp dụng hệ thống quản trị môi trường ISO 14001:2004 và vận hành hệ thống thu gom, tái sử dụng nước thải đã qua xử lý tương tự như mô hình Khu công nghiệp Long Hậu.

Các doanh nghiệp thứ cấp cần làm gì để giảm tải áp lực cho nhà máy xử lý nước thải tập trung? Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn tiếp nhận trước khi đấu nối, đồng thời định kỳ hút bùn bể tự hoại và kiểm soát chặt các chỉ tiêu vi sinh Coliform cũng như N-NH3, tránh tình trạng xả vượt ngưỡng gây quá tải cho hệ thống xử lý chung.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng môi trường tại Khu công nghiệp Long Thành với quy mô 488 ha và 58 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất.
  • Đã nhận diện chính xác các nguồn thải trọng yếu bao gồm 7.867,8 m3 nước thải mỗi ngày, 259 tấn chất thải rắn mỗi tháng và các nguồn khí thải phát sinh từ lò hơi công nghiệp.
  • Cung cấp bộ dữ liệu quan trắc thực nghiệm tại 22 vị trí lấy mẫu môi trường không khí, đất, nước ngầm và nước mặt tiếp nhận trên lưu vực sông Đồng Nai.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về nâng cấp kỹ thuật xử lý nước thải, hoàn thiện 100% hồ sơ quản lý chất thải nguy hại và mở rộng không gian cây xanh sinh thái.
  • Lộ trình triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý theo hướng phát triển xanh được thiết lập chi tiết cho giai đoạn 2011 - 2015, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng khu công nghiệp bền vững.

Các nhà quản lý hạ tầng và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.