Luận văn: Huyện ủy Bù Gia Mập lãnh đạo xây dựng nông thôn mới - Trần Thị Trinh

Nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Huyện ủy Bù Gia Mập, Bình Phước trong xây dựng nông thôn mới hiện nay, phân tích kết quả và giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về huyện ủy Bù Gia Mập lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Huyện ủy Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đóng vai trò trung tâm trong việc lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (NTM) trên địa bàn. Chương trình NTM nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn thông qua phát triển hạ tầng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Huyện ủy đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, từ quy hoạch vùng sản xuất đến huy động nguồn lực cộng đồng. Kết quả đạt được thể hiện qua tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM ngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn được cải thiện đáng kể. Sự lãnh đạo của huyện ủy gắn liền với việc huy động sự tham gia của hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân. Những nỗ lực này góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn như sự chênh lệch giữa các xã, nguồn lực hạn chế và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.1. Khái niệm và vai trò của huyện ủy trong xây dựng NTM

Huyện ủy Bù Gia Mập xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Vai trò của huyện ủy thể hiện ở việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị lãnh đạo toàn diện. Huyện ủy chịu trách nhiệm định hướng chiến lược, phân bổ nguồn lực và giám sát thực hiện. Qua đó, huyện ủy đảm bảo sự thống nhất trong hành động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Đặc biệt, huyện ủy chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cộng đồng. Sự lãnh đạo quyết liệt này là động lực quan trọng thúc đẩy tiến trình NTM trên địa bàn.

1.2. Bối cảnh và kết quả bước đầu của huyện Bù Gia Mập

Bù Gia Mập là huyện miền núi, có diện tích rộng nhưng điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Trước khi triển khai NTM, hạ tầng nông thôn yếu kém, thu nhập người dân thấp. Sau hơn 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, huyện đã đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, 100% xã đạt chuẩn NTM, nhiều tuyến đường nông thôn được bê tông hóa. Kinh tế chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi so với giai đoạn trước. Huyện cũng phát huy lợi thế về cây công nghiệp như cao su, điều, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp.

II. Thực trạng và những vấn đề tồn tại trong lãnh đạo xây dựng NTM

Huyện ủy Bù Gia Mập đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng NTM, song vẫn đối mặt với không ít thách thức. Sự chênh lệch giữa các xã trong huyện là vấn đề nổi cộm, khi một số xã gặp khó khăn trong huy động nguồn lực. Chất lượng hạ tầng nông thôn tại một số nơi còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu vốn đầu tư, nhất là vốn trung hạn cho các dự án sản xuất quy mô lớn, gây cản trở tiến trình NTM. Khó khăn khác đến từ sự thiếu đồng bộ trong quản lý, khi nhiều dự án triển khai chậm do thủ tục hành chính rườm rà. Nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nông nghiệp còn thiếu, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Những tồn tại này đòi hỏi huyện ủy phải có giải pháp quyết liệt hơn trong lãnh đạo, quản lý.

2.1. Những thành tựu nổi bật của huyện ủy trong lãnh đạo NTM

Huyện ủy Bù Gia Mập đã lãnh đạo đạt được nhiều kết quả quan trọng trong xây dựng NTM. Đến nay, toàn huyện có 8/8 xã đạt chuẩn NTM, vượt chỉ tiêu đề ra. Hạ tầng nông thôn được nâng cấp đồng bộ, với 100% tuyến đường xã, thôn được bê tông hóa. Kinh tế nông nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ, giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 8-10%/năm. Huyện cũng thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, góp phần tạo việc làm cho người dân. Sự lãnh đạo của huyện ủy đã tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến tồn tại

Mặc dù đạt được nhiều kết quả, huyện ủy vẫn đối mặt với những hạn chế trong lãnh đạo xây dựng NTM. Sự chênh lệch giữa các xã là vấn đề nổi cộm, khi một số xã gặp khó khăn trong huy động nguồn lực. Chất lượng hạ tầng nông thôn tại một số nơi còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn đầu tư hạn chế, thiếu sự đồng bộ trong quản lý dự án. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao phục vụ nông nghiệp cũng gây cản trở tiến trình NTM. Những tồn tại này đòi hỏi huyện ủy phải có giải pháp quyết liệt hơn trong lãnh đạo, quản lý.

III. Giải pháp tăng cường lãnh đạo huyện ủy trong xây dựng NTM

Để đẩy mạnh tiến trình xây dựng NTM, huyện ủy Bù Gia Mập cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu. Trước tiên, huyện ủy phải nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý bằng cách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở. Thứ hai, huyện ủy cần huy động tối đa nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng thông qua các chính sách ưu đãi đầu tư. Giải pháp thứ ba là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Bốn là, huyện ủy phải tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của NTM. Năm là, huyện ủy cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành trong triển khai chương trình. Những giải pháp này sẽ góp phần thúc đẩy tiến trình NTM trên địa bàn huyện.

3.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của huyện ủy

Huyện ủy Bù Gia Mập cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý thông qua đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Việc tổ chức các lớp tập huấn về quản lý dự án, ứng dụng công nghệ vào sản xuất là cần thiết. Huyện ủy cũng cần xây dựng cơ chế đánh giá, giám sát hoạt động của cán bộ cấp cơ sở, kịp thời phát hiện và khắc phục những hạn chế. Bên cạnh đó, huyện ủy phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Những biện pháp này sẽ giúp huyện ủy nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý trong xây dựng NTM.

3.2. Huy động nguồn lực và ứng dụng khoa học công nghệ

Huyện ủy Bù Gia Mập cần đẩy mạnh huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng thông qua các chính sách ưu đãi đầu tư. Huyện ủy cũng cần khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Việc xây dựng các mô hình sản xuất tiên tiến, áp dụng công nghệ 4.0 vào nông nghiệp là giải pháp quan trọng. Bên cạnh đó, huyện ủy phải tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học để thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tiến trình NTM.

IV. Kết luận và định hướng phát triển nông thôn mới huyện Bù Gia Mập

Sau hơn 10 năm triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM, huyện ủy Bù Gia Mập đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hạ tầng nông thôn được nâng cấp, kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ, đời sống người dân được cải thiện. Tuy nhiên, huyện ủy vẫn cần tiếp tục nỗ lực để giải quyết những tồn tại, thách thức còn tồn tại. Định hướng trong thời gian tới là tập trung vào nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển sản xuất hàng hóa. Huyện ủy cũng cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của NTM. Những nỗ lực này sẽ góp phần xây dựng nông thôn mới Bù Gia Mập ngày càng giàu đẹp, văn minh.

4.1. Đánh giá chung về quá trình lãnh đạo xây dựng NTM

Huyện ủy Bù Gia Mập đã lãnh đạo đạt được nhiều kết quả quan trọng trong xây dựng NTM. Đến nay, toàn huyện có 8/8 xã đạt chuẩn NTM, vượt chỉ tiêu đề ra. Hạ tầng nông thôn được nâng cấp đồng bộ, kinh tế nông nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ. Những thành tựu này là minh chứng cho sự lãnh đạo quyết liệt, hiệu quả của huyện ủy. Tuy nhiên, huyện ủy vẫn cần tiếp tục nỗ lực để giải quyết những tồn tại, thách thức còn tồn tại. Những đánh giá này sẽ là cơ sở quan trọng để huyện ủy đề ra giải pháp phù hợp trong thời gian tới.

4.2. Định hướng phát triển nông thôn mới giai đoạn 2025 2030

Huyện ủy Bù Gia Mập xác định giai đoạn 2025-2030 là thời kỳ quan trọng để nâng cao chất lượng NTM. Định hướng là tập trung vào phát triển sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Huyện ủy cũng chú trọng phát triển hạ tầng nông thôn đồng bộ, hiện đại. Bên cạnh đó, huyện ủy sẽ tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nông nghiệp. Những định hướng này sẽ góp phần xây dựng nông thôn mới Bù Gia Mập ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Huyện ủy bù gia mập tỉnh bình phước lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trên địa bàn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chƣơng, 07 tiết. 11 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUYỆN ỦY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Xây dựng nông thôn mới - quan niệm, nội dung và vai trò 1. Quan niệm về xây dựng nông thôn mới * Nông thôn Thông tƣ số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định nghĩa: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”; “thôn là tên gọi chung của thôn, làng, ấp, bản,buôn, bon, phum, sóc… là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một xã” [6, tr.

Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái. Nông thôn gắn liền với đời sống, tập tục và bản sắc văn hóa của một cộng đồng. Về phƣơng diện kinh tế, nông thôn bao gồm các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trƣờng, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và kết cấu hạ tầng. Vì thế, phát triển nông thôn phải bao gồm phát triển kinh tế, xã hội, tổ chức và môi trƣờng.

Nông thôn dùng chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trƣng chung của nền kinh tế về lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế.

vừa có những đặc điểm riêng gắn liền nông nghiệp nông thôn. Nhƣ vậy, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cƣ dân. Tập hợp cƣ dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trƣờng trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hƣởng của các tổ chức khác. 12 * Nông thôn mới Khái niệm NTM mang đặc trƣng của mỗi vùng nông thôn khác nhau, nhìn chung mô hình NTM đƣợc xây dựng ở cấp xã, thôn phát triển toàn diện theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của HTCT đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Nhƣ vậy,có thể hiểu: Nông thôn mới là là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.

Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. * Xây dựng nông thôn mới Theo Từ điển tiếng Việt, “xây dựng” là thuật ngữ có hai nghĩa chính: 1. Làm nên, gây dựng và vun đắp nên; 2. Có thiện ý, nhằm vun đắp cho tốt hơn [60, tr.

Dƣới góc độ nghiên cứu của đề tài thì xây dựng NTM cần đƣợc hiểu là làm nên, gây dựng và vun đắp nên các giá trị mới cho nông thôn. Xây dựng NTM nhằm tạo ra các giá trị mới của nông thôn Việt Nam, một nông thôn hàm chứa những giá trị kinh tế mới, có văn hóa nông thôn văn minh, hiên đại nhƣng vẫn giữ gìn, bảo tồn đƣợc các giá trị văn hóa truyền thống và ở đó những ngƣời nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là ngƣời hƣởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần do chính họ sáng tạo ra. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ƣơng 7 khóa X đã đƣa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông 13 nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng” [10, tr. Nhằm tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 28-7-2021, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 25/2021/QH15 phê duyệt chủ trƣơng đầu tƣ Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025.Mục tiêu tổng quátlà:Tiếp tục triển khai Chƣơng trình gắn với thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hoá, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững; thực hiện xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu và NTM cấp thôn, bản.

Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn, thúc đẩy bình đẳng giới. Xây dựng hạ tầng KT-XHnông thôn đồng bộ và từng bƣớc hiện đại, bảo đảm môi trƣờng, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hoá truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Từ những vấn đề trên, có thể quan niệm:Xây dựng NTM là tổng thể các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực trong thực hiện thắng lợi tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Nội dung xây dựng nông thôn mới Thứ nhất, quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng KT-XH - môi trƣờng; phát triển các khu dân cƣ mới và chỉnh trang các khu dân cƣ hiện có trên địa bàn xã. 14 Thứ hai, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội. Tiêu chí giao thông: Tiếp tục thực hiện chƣơng trình kiên cố hoá giao thông nông thôn. Tỷ lệ km đƣờng trục xã, liên xã, đƣờng trục thôn, xóm, đƣờng ngõ, xóm, đƣờng trục chính nội đồng.

Tiêu chí thủy lợi: Tiếp tục thực hiện chƣơng trình kiên cố hóa kênh mƣơng. Tập trung đầu tƣ xây dựng mới các trạm bơm, công trình đầu mối; cải tạo, nâng cấp các trạm bơm đã bị xuống cấp để nâng cao hiệu suất tƣới và tiêu theo hƣớng đa mục tiêu. Tiếp tục nâng cấp hệ thống đê điều, kiên cố hóa mặt đê vừa đảm bảo phòng chống lụt bão vừa phát triển giao thông nông thôn. Tiêu chí điện nông thôn: Tiếp tục đầu tƣ nâng cấp hệ thống điện nông thôn cho các xã đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã.

Tiêu chí trƣờng học: Tiếp tục thực hiện chƣơng trình kiên cố hoá trƣờng học cho các xã về đầu tƣ xây dựng hệ thống cơ sở trƣờng học và mua sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập. Tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa và bƣu điện: Đầu tƣ xây dựng, cải tạo, nâng cấp, trang bị nhà văn hoá khu thể thao của xã, nâng cấp bƣu điện văn hóa xã, nhà văn hóa - sinh hoạt thôn cho các xã. Tổ chức và quản lý tốt các hoạt động văn hoá - thể thao của xã và các thôn, để thu hút đông đảo ngƣời dân tham gia. Tiêu chí chợ nông thôn: Tập trung đầu tƣ xây dựng, cải tạo, nâng cấp các chợ hiện có nhƣng chƣa đạt chuẩn cho các xã; những xã chƣa có chợ cần tiến hành rà soát quy hoạch, đầu tƣ xây dựng chợ mới để phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hoá, vật tƣ, sản phẩm của cƣ dân nông thôn.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao; tăng cƣờng công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngƣ nghiệp; cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau 15 thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp; bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phƣơng châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phƣơng; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đƣa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn. Thứ tư, giảm nghèo và an sinh xã hội. Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các chƣơng trình giảm nghèo, đặc biệt là ở các xã miền núi, các xã khó khăn, có tỉ lệ hộ nghèo cao.

Giải quyết tốt chính sách với ngƣời có công và chính sách xã hội. Thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm, tạo việc làm mới, việc làm thêm cho lao động nông thôn. Nâng cao chất lƣợng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Tăng cƣờng công tác tuyên truyền, giáo dục, tích cực đấu tranh phòng, chống và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy. Thứ năm, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn. Chú trọng tới sự phát triển kinh tế hộ, trang trại, HTX. Có chính sách hộ trợ các hộ gia đình, HTX làm ăn có hiệu quả, phổ biến để nhân dân biết học hỏi; chú trọng tới sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là những doanh nghiệp hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm; xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn; thành lập mới các HTX chuyên ngành; quy hoạch và đào tạo bồi dƣỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ HTX.

Thứ sáu, phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ