Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết chung về vấn đề huy động vốn của các Doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng huy động vốn của các Doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại Hà Nội - Chương 4: Định hướng và giải pháp trong việc huy động vốn cho Doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh cực công nghệ thông tin trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với Doanh nghiệp mới ra đời và đang hoạt động.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một Doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình Doanh nghiệp , vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong quản lý tài chính, các Doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính. Có nhiều công trìnhnói về vấn đề huy động vốn của Doanh nghiệp, nhưng các nghiên cứu tập trung về chủ đề huy động vốn cho Doanh nghiệp khởi nghiệp không có nhiều, mang tính chất nhỏ lẻ, đề cập chứ chưa thật sự chuyên sâu.
- Tác giả Lê Thị Kim Hoàn, 2015. Đề tài “ Thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”. Đã nêu ra những hình thức huy động vốn cơ bản của các doanh nghiệp hiện nay, tác giả cũng đã đưa ra một vài nhận định về hình thức huy động vốn mang lại hiệu quả tối ưu cho doanh nghiệp như Doanh nghiệp nhỏ và vừa thì nên chọn hình thức huy động vốn hiệu quả là tín dụng từ nhà cung cấp, thuê mua tài chính và vay vốn ngân hàng. Đối với Doanh nghiệp lớn, phát hành cổ phiếu và trái phiếu là hình thức tăng vốn lên nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp kinh doanh 4 trong ngành đang ở trong giai đoạn suy thoái trong chu kỳ kinh doanh thì không nên huy động vốn thông qua việc vay nợ vì sẽ làm tăng rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Đối với các dự án đầu tư mới và nhỏ, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn giữ lại của mình. Với các dự án lớn hơn, doanh nghiệp có thể đi vay vốn ngân hàng và đối với những kế hoạch lớn như xây dựng nhà xưởng mới, sáp nhập thì công ty có thể huy động vốn qua việc phát hành cổ phiếu. Tuy nhiên, khi Doanh nghiệp khi bắt đầu chiến dịch săn tìm vốn cho dự án của mình, phải lưu ý điểm cốt yếu là: việc phân tích lợi nhuận - rủi ro, và khả năng chấp nhận rủi ro của chính doanh nghiệp để lựa chọn hình thức huy động vốn thích hợp.
Nếu dự án ít rủi ro (và lợi nhuận thấp), phương án vay ngân hàng có thể là một ý tốt. Ngược lại, nếu lợi nhuận cao (và rủi ro cũng cao) thì nên nghĩ tới huy động cổ đông, bán trả trước, hoặc tìm tới những quỹ đầu tư mạo hiểm. Còn trong trường hợp lý tưởng (và thường hiếm gặp trong thực tế), nếu doanh nghiệp có một dự án lợi nhuận cao, và hầu như không có rủi ro, việc huy động vốn sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. - Tác giả Nguyễn Mạnh Dũng, 2015.
Đề tài “ Những giải pháp để mở rộng các kênh huy động vốn của doanh nghiệp”. Tác giả nghiên cứu theo tình hình thực tế của Công ty TNHH thương mại kĩ thuật điện Hà Nội, theo đó , tác giả đã đưa ra dự báo về nhu cầu sử dụng vốn của Công ty trong thời gian tới nếu mở rộng thị trường hoạt động ra các tỉnh phía Bắc và mở rộng hình thức hoạt động cả hai lĩnh vực là xây lắp và thương mại. Tác giả đã đưa ra được những hình thức huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp nhằm huy động đủ số vốn mà Công ty sẽ cần trong thời gian tới để mở rộng thị trường hoạt động. Một vài giải pháp tác giả đưa ra nhằm mở rộng các kênh huy động vốn của Công ty 5 TNHH thương mại kĩ thuật điện Hà Nội như: Huy động vốn từ phần lợi nhuận để lại của công ty để tái đầu tư sản xuất; huy động vốn từ nguồn vay tín dụng thương mại bằng cách cố gắng tăng vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu để có đủ điều kiện vay nhiều hơn các khoản tín dụng thương mại; thêm một giải pháp nữa là làm tăng tài sản của công ty ngày một lớn, để có thể tiếp cận được các khoản vay từ ngân hàng; và muốn huy động vốn thành công thì công ty phải nâng cao uy tín của chính mình.
Tác giả đưa ra một vài giải pháp tiếp cận các kênh huy động vốn mà công ty chưa khác thác: mở rộng hội đồng cổ đông; lựa chọn những cổ đông mới có đủ điều kiện để tham gia vào hội đồng cổ đông, những người có tiềm lực về vốn và kinh nghiệm trong kinh doanh; lựa chọn thời điểm thích hợp để kêu gọi nhà đầu tư; tiến hành sản xuất kinh doanh sao cho hiệu quả và ổn định. – Tác giả Nguyễn Quang Sơn ,2006. Đề tài “Vốn và các phương thức huy động vốn của DN” tập trung đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của vốn đối với Doanh nghiệp, thực trạng về vốn của Doanh nghiệp Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và những cách thức huy động vốn để phát triển Doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống hóa, tác giả trình bàynhững cơ sở lí luận về vốn chung và các cách thức huy động vốn theo truyền thống: (1) huy động vốn chủ sở hữu: chủ yếu là huy động từ: Vốn góp ban đầu; Lợi nhuận không chia; Phát hành cổ phiếu mới.
(2) huy động nợ: chủ yếu là huy động từ: Tín dụng thương mại; Tín dụng ngân hàng; Tín dụng thuê mua; Phát hành trái phiếu. Tác giả chưa đưa ra được những phương thức mới, hiệu quả hơn những cách thức mà từ trước đến nay các Doanh nghiệp đã và đang làm. Ngoài ra, thời điểm tác giả nghiên cứu là giai đoạn 2003 - 2005. Đặc điểm kinh tế xã hội thời kì này có nhiều điểm khác biệt so với thời 6 điểm hiện tại.
Nền kinh tế đã có nhiều phát triển và thay đổi về quy mô cũng như cách thức. - Tác giả Thạch Lê Anh, 2013. Đề án “Thương mại hóa Công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon tại Việt Nam” cung cấp các đánh giá khách quan của Thị trường KH&CN Việt Nam theo góc nhìn của các quỹ đầu tư nước ngoài trong linh̃ vưc̣ công nghê ̣thông tin và công nghê ̣sinh hoc̣. Tổng kết những điểm mạnh và điểm yếu còn t ồn tại của Thị trường KH&CN Việt Nam trong các linh̃ vưc̣ nói trên.
Đưa ra giải pháp để giải quyết những vấn đề bất cập và thúc đẩy phát triển thị trường công nghê ̣ViêṭNam trong linh̃ vưc̣ công ng hê ̣thông tin vàcông nghê ̣sinh hoc̣ nhằm muc̣ tiêu thu hút các quỹđầu tư nước ngoài. Tuy nhiên đề án này chỉ đưa ra giải pháp chung theo mô hình của nước ngoài chứ chưa thực sự phù hợp với thị trường công nghệ tại Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp ở Hà Nội nói riêng, nên các giải pháp trong đề án chưa chắc đã có tính thuyết phục hiệu quả đối với thị trường công nghệ tại Hà Nội. - Nhóm tác giả Tống Quốc Tuấn, Phạm Văn Tùng, Anousith Phoutthavong, Đại học kinh tế Quốc dân, 2013. Đề tài “Nhu cầu tài trợ vốn, những thuận lợi và khó khăn khi huy động vốn của Công ty cổ phần ACC-244”.
Ở đề tài này tác giả khái quát được nhu cầu về vốn của các Doanh nghiệp khởi nghiệp, vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời tác giả nêu lên thực trạng tài chính và các hình thức huy động vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay nói chung và của công ty cổ phần ACC -244 nói riêng. Nêu lên những thuận lợi và khó khăn của Doanh nghiệp trong quá trình huy động vốn cho Doanh nghiệp của mình… Tuy nhiên, các hình thức mà các tác giả đưa ra ở đây không mới, không có sự sáng tạo hoặc đột phá trong cách thức mà 7 Doanh nghiệp cần có để huy động vốn một cách hiệu quả hơn trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. - Tác giả Dan Senor và Saul Singervới cuốn sách “ Quốc gia khởi nghiệp” đã làm sáng tỏ câu hỏi mà bấy lâu nay mọi người vẫn thắc mắc và ngỡ ngàng về Isaren, một quốc gia chỉ có 7.1 triệu dân, mới được hơn 60 năm tuổi, bị bao vây bởi quân thù và chiến tranh triền miên nhiều thập kỉ, ngay từ những ngày mới thành lập nhà nước, là một quốc gia không có tài nguyên thiên nhiên, lại có thể cho ra đời nhiều công ty khởi nghiệp hơn cả các quốc gia thanh bình, ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội khác trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, Canada, thậm chí cả là cả nước Anh.
Ở nước này, trung bình có một công ty khởi nghiệp/2.000 công ty khởi nghiệp ở Israel và riêng quý 3, đã có 600 triệu USD được đầu tư. Cũng trong năm 2013, doanh số các công ty khởi nghiệp qua giai đoạn đầu tiên (thường là từ 5 - 7 năm) và được đưa lên sàn chứng khoán hay bán đi đạt đến 7 tỉ USD. Các tác giả đã cho người đọc biết đến Isaren với tinh thần doanh nhân và sự cải tiến vượt bậc trong công nghệ, sự biến đổi thần kì với môi trường phát triển kinh doanh hoàn toàn mới của các Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao. Trung tâm khởi nghiệp quốc gia Israel cho biết: 3 yếu tố trực tiếp dẫn đến khởi nghiệp thành công là chính sách của chính phủ, sự năng động của công dân (trong đó có dân nhập cư) và sự đóng góp của môi trường quân đội.
Yếu tố đóng góp sâu sắc, căn cơ nhất chính là do nền giáo dục, do quá trình tạo dựng “gien cơ bản” cho tinh thần khởi nghiệp trong mỗi công dân nước này 8 Từ các đề tài đã nghiên cứu về vốn, huy động vốn của các Doanh nghiệp tại Hà Nội và trên địa bàn Hà Nội, theo nhận định của tôi, đề tài nghiên cứu về vốn và huy động vốn của các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ đã và đang được nghiên cứu không có nhiều.