Thiết kế và lập trình hệ thống tự động bơm và trộn liệu với PLC S7-200

Khóa luận tốt nghiệp thiết kế hệ thống tự động bơm và trộn liệu sử dụng PLC S7-200, ứng dụng công nghệ hiện đại, tối ưu hóa quy trình sản xuất công nghiệp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp đại học

2016

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thiết kế hệ thống bơm

Thiết kế hệ thống bơm là một phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống tự động hóa. Hệ thống này bao gồm các thành phần như bơm, van, cảm biến và bộ điều khiển. PLC S7-200 được sử dụng để điều khiển quá trình bơm, đảm bảo hoạt động ổn định và chính xác. Việc thiết kế cần tính toán các thông số kỹ thuật như lưu lượng, áp suất và thời gian hoạt động. Tự động hóa hệ thống bơm giúp giảm thiểu sự can thiệp của con người, tăng hiệu quả và độ tin cậy.

1.1. Nguyên lý hoạt động

Hệ thống bơm hoạt động dựa trên tín hiệu từ cảm biến và lệnh từ PLC S7-200. Khi mức chất lỏng đạt ngưỡng nhất định, PLC sẽ kích hoạt bơm để bơm chất lỏng vào bể chứa. Quá trình này được lặp lại tự động theo chu kỳ. Điều khiển bơm bằng PLC đảm bảo độ chính xác và giảm thiểu sai sót.

1.2. Tính toán thông số

Các thông số cần tính toán bao gồm lưu lượng bơm, áp suất làm việc và thời gian hoạt động. Việc tính toán chính xác giúp hệ thống hoạt động hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Hệ thống bơm công nghiệp thường yêu cầu độ chính xác cao và khả năng chịu tải lớn.

II. Thiết kế hệ thống trộn

Thiết kế hệ thống trộn là quá trình tích hợp các thành phần như động cơ, cánh khuấy và bộ điều khiển để đảm bảo hỗn hợp đồng nhất. PLC S7-200 được sử dụng để điều khiển thời gian và tốc độ trộn. Tự động hóa hệ thống trộn giúp tăng năng suất và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Hệ thống này được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như sản xuất sơn, thực phẩm và hóa chất.

2.1. Nguyên lý hoạt động

Hệ thống trộn hoạt động dựa trên tín hiệu từ cảm biến và lệnh từ PLC S7-200. Khi các nguyên liệu được đưa vào bể trộn, PLC sẽ điều khiển động cơ và cánh khuấy để đảm bảo hỗn hợp đồng nhất. Điều khiển trộn bằng PLC giúp tối ưu hóa quá trình và giảm thiểu sai sót.

2.2. Tính toán thông số

Các thông số cần tính toán bao gồm tốc độ khuấy, thời gian trộn và tỷ lệ nguyên liệu. Việc tính toán chính xác giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguyên liệu. Hệ thống trộn công nghiệp thường yêu cầu độ chính xác cao và khả năng chịu tải lớn.

III. Lập trình PLC S7 200

Lập trình PLC S7-200 là bước quan trọng trong việc điều khiển hệ thống bơm và trộn tự động. PLC được lập trình để thực hiện các chức năng như điều khiển bơm, trộn và giám sát các thông số kỹ thuật. Ứng dụng PLC trong công nghiệp giúp tăng hiệu quả sản xuất và giảm thiểu sự can thiệp của con người. Việc lập trình cần tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và đảm bảo độ tin cậy.

3.1. Ngôn ngữ lập trình

PLC S7-200 sử dụng ngôn ngữ lập trình Ladder Logic, dễ hiểu và phù hợp với các ứng dụng công nghiệp. Lập trình điều khiển tự động đòi hỏi sự chính xác và logic cao để đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định.

3.2. Phần mềm mô phỏng

Phần mềm mô phỏng giúp kiểm tra và đánh giá chương trình trước khi đưa vào vận hành thực tế. PLC Siemens S7-200 được hỗ trợ bởi phần mềm STEP7, giúp tối ưu hóa quá trình lập trình và giảm thiểu lỗi.

IV. Ứng dụng thực tế

Hệ thống bơm và trộn tự động được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như sản xuất sơn, thực phẩm và hóa chất. Tự động hóa công nghiệp giúp tăng năng suất, giảm chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Việc sử dụng PLC S7-200 trong hệ thống này đã chứng minh hiệu quả và độ tin cậy cao.

4.1. Trong ngành sơn

Hệ thống bơm và trộn tự động được sử dụng để sản xuất sơn với độ đồng nhất cao. Thiết kế hệ thống điều khiển bằng PLC giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất và giảm thiểu sai sót.

4.2. Trong ngành thực phẩm

Hệ thống này được sử dụng để trộn các nguyên liệu thực phẩm, đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh. Ứng dụng PLC trong công nghiệp giúp tăng hiệu quả sản xuất và giảm thiểu sự can thiệp của con người.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, đất nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, để quá trình này phát triển nhanh chúng ta cần tập trung đầu tƣ vào các dây chuyền sản xuất tự động hóa, nhằm mục đích giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động và cho ra sản phẩm có chất lƣợng cao. Một trong những phƣơng án đầu tƣ vào tự động hoá là việc ứng dụng PLC vào các dây chuyền sản xuất. Đối với những tính năng tiện ích của hệ thống PLC nên hiện nay bộ điều khiển này đang đƣợc sử dung rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau. Để điều khiển hệ thống trộn sơn ta có nhiều cách khác nhau nhƣ dùng rơle thời gian, dùng vi điều khiển.

Với những ƣu điểm vƣợt trội nhƣ: giá thành hạ, dễ thi công lắp đặt, dễ sửa chữa, chất lƣợng làm việc ổn định linh hoạt… , nên hiện nay PLC (Program Logic Control – thiết bị điều khiển lập trình đƣợc) đƣợc sử dụng rất rộng rãi để điều khiển hệ thống trộn sơn. Xuất phát từ tình hình thực tế trên và ham muốn hiểu biết về PLC, em xin chọn đề tài làm tốt nghiệp: “: Thiết kế lập trình hệ thống tự động bơm và trộn liệu sử dụng plc S7-200” do TS. Nguyễn Trọng Thắng hƣớng dẫn. Đề tài gồm ba chƣơng với nội dung cơ bản nhƣ sau: Chƣơng 1.

Tìm hiều về hệ thống trộn sơn. Tổng quan về PLC S7 – 200. Thiết kế, xây dựng hệ thống điều khiển trộn sơn bằng PLC S7 – 200. TÌM HIỀU VỀ HỆ THỐNG TRỘN SƠN 1.

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN. Lịch sử phát triển ngành sơn thế giới. Sơn (hoặc có thể gọi là chất phủ bề mặt) đƣợc dùng để trang trí mỹ thuật hoặc bảo vệ các bề mặt vật liệu cần sơn. Sơn đã đƣợc loài ngƣời cổ xƣa chế biến từ các vật liệu thiên nhiên sẵn có để tạo các bức tranh trên nền đá ở nhiều hang động nhằm ghi lại hình ảnh sinh hoạt cuộc sống thƣờng ngày mà ngành khảo cổ học thế giới đã xác định đƣợc niên đại cách đây khoảng 25.

Ai Cập đã biết chế tạo sơn mỹ thuật từ năm 300 – 600 trƣớc công nguyên Hy Lạp và La Mã đã chế tạo sơn dầu béo vừa có tác dụng trang trí vừa có tính chất bảo vệ các bề mặt cần sơn trong thời kỳ năm 600 trƣớc công nguyên đến năm 400 sau công nguyên và mãi đến thế kỷ 13 sau công nguyên các nƣớc khác của Châu Âu mới biết đến công nghệ sơn này và đến cuối thế kỷ 18 mới bắt đầu có các nhà sản xuất sơn chuyên nghiệp do yêu cầu về sơn tăng mạnh. Cuộc cách mạng kỹ thuật của thế giới đã tác động thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp sơn từ thế kỷ 18 nhƣng chất lƣợng sơn bảo vệ và trang trí vẫn chƣa cao vì nguyên liệu chế tạo sơn đi từ các loại dầu nhựa thiên nhiên và các loại bột màu vô cơ có chất lƣợng thấp. Ngành công nghiệp sơn chỉ có thể phát triển nhảy vọt khi xuất hiện trên thị trƣờng các loại nhựa tổng hợp tạo màng sơn cùng với các loại bột màu hữu cơ chất lƣợng cao và nhất là sự xuất hiện của sản phẩm bột màu trắng đioxit titan (TiO2) là loại bột màu chủ đạo, phản ánh sự phát triển của công nghiệp sơn màu. Các mốc phát triển công nghiệp sơn (đƣợc khởi đầu từ thế kỷ 20 đến cuối thế kỷ 20) có thể đƣợc phản ánh nhƣ sau: - Năm 1923: nhựa Nitrocellulose, alkyd - Năm 1924: Bột màu TiO2 - Năm 1928: Nhựa Phenol tan trong dầu béo - Năm 1930: Nhựa Amino Urea Formaldehyde - Năm 1933: Nhựa Vinyl Clorua đồng trùng hợp - Năm 1934: Nhựa nhũ tƣơng trong gốc dầu - Năm 1936: Nhựa Acrylic nhiệt rắn - Năm 1937: Nhựa Polyurethan - Năm 1939: Nhựa Amino melamin Formaldehyde - Năm 1944: Sơn gốc Silicone - Năm 1947: Nhựa Epoxy - Năm 1950: Nhựa PVA và Acrylic laquer - Năm 1955: Sơn bột tĩnh điện - Năm 1958: Sơn xe hơi gốc Acrylic laquer sơn nhà gốc nhựa latex - Năm 1960: Sơn công nghiệp gốc nƣớc - Năm 1962: Sơn điện di kiểu Anode - Năm 1963: Sơn đóng rắn bằng tia EB và UV - Năm 1971: Sơn điện di kiểu catode 1.2 Lịch sử phát triển ngành sơn Việt Nam.

Ở Việt Nam, cha ông ta từ gần 400 năm trƣớc đã biết dùng sơn ta từ cây sơn mọc tự nhiên chế biến thành sơn trang trí và bảo vệ cho chất lƣợng gỗ của các pho tƣợng thờ, các tấm hoành phi câu đối “sơn son thiếp vàng”, lớp sơn bảo vệ này chất lƣợng hầu nhƣ không thay đổi sau hàng trăm năm sử dụng, sơn ta đến nay vẫn đƣợc coi là nguyên liệu chất lƣợng cao dùng cho ngành tranh sơn mài đƣợc ƣa chuộng cả trong và ngoài nƣớc hoặc một số loại dầu béo nhƣ: dầu chẩu và dầu lai hoặc nhựa thông từ cây thông ba lá mọc tự nhiên tại Việt Nam, từ lâu đã đƣợc ngƣời dân chế biến thành dầu bóng (clear – varnish) gọi nôm na là “quang dầu” dùng trang trí và bảo vệ cho “nón lá” hoặc “đồ gỗ”, nội ngoại thất. Tuy nhiên, việc sử dụng sơn nói trên chỉ mang tính chất tự phát từ nhu cầu đời sống thƣờng ngày, đến năm 1913 - 1914 ở Việt Nam mới xuất hiện một xƣởng sơn dầu ở Hải Phòng do ngƣời Pháp mở mang nhãn hiệu TESTUDO , tiếp sau đó vài năm hãng sơn Việt Nam đầu tiên “Công ty sơn Nguyễn Sơn Hà” đƣợc thành lập và tiếp theo có các hãng sơn ở Hà Nội là Thăng Long, Gecko. Trong đó cần chú ý là loại sơn RESISTANCO của hãng sơn Nguyễn Sơn Hà rất đƣợc ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc ƣa chuộng, đây có thể nói là hãng sơn đầu tiên lớn nhất tại Việt Nam lúc ấy và còn để lại giấu ấn lịch sử tới ngày nay là Công ty cổ phần sơn Hải Phòng phát triển từ mảnh đất mang tên Xí nghiệp sơn Phú Hà (hậu duệ sau này của ông Nguyễn Sơn Hà). Vì vậy có thể nói rằng: ông Nguyễn Sơn Hà chính là ông tổ ngành sơn Việt Nam.

Ngành sơn Việt Nam sau khi đạt đƣợc sự phát triển ổn định từ khi thành lập, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 là quá trình phát triển với tốc độ cao cùng với sự tăng trƣởng không ngừng của nền kinh tế Việt Nam với các đặc điểm phát triển nhƣ sau: Phát triển mạnh về sản lƣợng và chủng loại sơn: Sơn trang trí chiếm tỉ trọng lớn, tăng trƣởng trung bình 25%/năm, sơn tàu biển, bảo vệ, sơn công nghiệp ngày càng phát triển theo yêu cầu thị trƣờng (xem bảng số liệu các năm 1995 đến 2007 về phát triển thị trƣờng sơn Việt Nam do Hiệp hội sơn và mực in Việt Nam – VPIA công bố). Đến năm 2007 đã có mặt tại Việt Nam hầu hết các hãng sơn lớn của thế giới dƣới hình thức đầu tƣ 100% vốn nƣớc ngoài hoặc gia công hợp tác sản xuất với các công ty Sơn Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều công ty Sơn Việt Nam (dạng cổ phần hoặc tƣ nhân 100% vốn Việt Nam cũng mạnh dạn mở rộng hoặc xây mới nhà máy, đầu tƣ thiết bị công nghệ mới, nâng cao chất lƣợng sản phẩm sơn cạnh tranh thị trƣờng theo yêu cầu ngƣời tiêu thụ. Có thể nói sự phát triển với tốc độ cao về sản lƣợng công nghệ mới và nâng cao chất lƣợng sản phẩm đã tạo ra bức tranh ngoạn mục của phát triển ngành sơn Việt Nam trong giai đoạn này.

Sự phân chia thị trƣờng các loại sơn tại Việt Nam đến năm 2007 đã đạt mức quân bình kiểu “tám lạng nửa cân” giữa các thƣơng hiệu lớn không phân biệt “nƣớc ngoài” hay “nội địa” có thể kể ra nhƣ sau: Về sơn trang trí: 4 ORANGES - AKZO (ICI) DECORATIVE – NIPPON – KOVA – TISON BẠCH TUYẾT – SƠN TỔNG HỢP… Về sơn tàu biển và bảo vệ: INTERPAINTS – SƠN HẢI PHÕNG – SƠN JOTUN – SƠN Á ĐÔNG – SƠN HẢI ÂU… Về sơn đồ gỗ: AKZO INDUSTRY COATINGS – ĐẠI HƢNG – VALSPA SHERWIN WILLIAMS – ĐẠI KIỀU – HÓA KEO BÌNH THẠNH – XUÂN AN –DUY HOÀNG … Về sơn bột: AKZO CHANG CHENG – JOTUN- ĐẠI PHÖ – TÂN NAM PHÁT – Á ĐÔNG – SƠN TỔNG HỢP HÀ NỘI Về sơn coil (tấm lợp): Á ĐÔNG – AKZO INDUSTRY COATINGS – PPG COATINGS – BECKER – KCC YUNGCHI… Về các loại sơn khác (ví dụ: Sơn ô tô OEM, sơn sàn, sơn kẻ đƣờng, sơn can, sơn plastic…) các thƣơng hiệu: Sơn tổng hợp Hà Nội, Nippon, PPG, KOVA, Sơn Hải Phòng… Dòng sản phẩm với công nghệ mới nhất của thế giới và khu vực là sơn trang trí gốc nƣớc sử dụng bột dioxit titan (TiO2) nano chất lƣợng cao đã đƣợc nhiều hãng sơn tại Việt Nam sản xuất bán ở thị trƣờng hoặc các loại sơn công nghiệp gốc nƣớc từ Epoxy, Polyurethan chất lƣợng cao cũng đã đƣợc sản xuất bán ra thị trƣờng theo xu hƣớng sản phẩm thân thiện môi trƣờng. Tuy nhiên, số lƣợng yêu cầu sử dụng chƣa nhiều do giá sản phẩm còn cao. Số lƣợng nhà sản xuất sơn bắt đầu tăng trƣởng mạnh: năm 2002 có 60 doanh nghiệp – năm 2004: 120 doanh nghiệp – năm 2006: 168 doanh nghiệp – năm 2008: 187 doanh nghiệp – năm 2009 (theo số thống kê cập nhật chƣa đƣợc kiểm tra): khoảng 250 doanh nghiệp. Nhận xét chung về thị phần và phân chia thị phần sơn Việt Nam thấy rằng: + Cho đến năm 2008 các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (khoảng hơn 30 doang nghiệp) vẫn chiếm 60% thị phần, 40% còn lại là phần các doanh nghiệp Việt Nam.

+ Sơn trang trí chiếm tỉ trọng lớn về thể tích (64 – 66%) tổng sản lƣợng nhƣng lại có giá trị thấp, ứng với (41 – 45%) về trị giá. Với đặc điểm phát triển tốc độ cao trong giai đoạn này có mức tăng trƣởng trung bình 15 – 20% năm, số lƣợng Doanh nghiệp sản xuất sơn ngày càng gia tăng Việt Nam trở thành “điểm nóng” thu hút đầu tƣ của các nƣớc trong khu vực và quốc tế vào ngành công nghiệp sơn. Hiệp hội ngành nghề sơn - mực in Việt Nam (tên giao dịch VPIA) đƣợc thành lập 25/4/2008 từ tổ chức tiền thân là phân hội sơn - mực in thuộc Hội hóa học – Tp.Hồ Chí Minh. Ngay năm đầu tiên thành lập, tính đến 21/4/2009 VPIA đã quy tụ 112 Hội viên Doanh nghiệp có liên quan đến ngành nghề (trong số 71 Hội viên là doanh nghiệp sản xuất có: 54 doanh nghiệp sản xuất sơn, 10 doanh nghiệp sản xuất mực in, 7 doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu và thiết bị sản xuất sơn) VPIA là thành viên chính thức của tổ chức APIC (Hội đồng quốc tế sơn Châu Á) gồm 17 Hiệp hội sơn các nƣớc trong khu vực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hướng dẫn thiết kế hệ thống bơm và trộn tự động sử dụng PLC S7-200 là một bài viết chuyên sâu về việc ứng dụng PLC S7-200 trong thiết kế hệ thống bơm và trộn tự động. Bài viết cung cấp các bước chi tiết từ lập trình, kết nối phần cứng đến kiểm tra và vận hành hệ thống. Điểm nổi bật là cách tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả công việc. Độc giả sẽ nhận được lợi ích từ việc hiểu rõ cách tích hợp PLC vào hệ thống công nghiệp, đồng thời có thể áp dụng kiến thức này vào các dự án thực tế.

Nếu bạn quan tâm đến các ứng dụng khác của PLC trong công nghiệp, hãy khám phá thêm về Đồ án hcmute điều khiển giám sát hệ thống bơm lọc và cân sản phẩm tự động sử dụng PLC S7-200 để hiểu sâu hơn về cách PLC S7-200 được sử dụng trong các hệ thống tự động hóa. Bên cạnh đó, bài viết Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu máy điện không đồng bộ rô to dây quấn thiết kế mạch khởi động cho động cơ không đồng bộ rô to dây quấn dùng PLC S7-200 sẽ mang đến góc nhìn mới về ứng dụng PLC trong điều khiển động cơ. Cuối cùng, Báo cáo đồ án thiết kế hệ thống phân loại sản phẩm theo khối lượng sử dụng PLC S7-1200 là một tài liệu hữu ích để mở rộng kiến thức về các dòng PLC khác trong công nghiệp.