CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE LY HON VỚI NGƯỜI TOA ÁN TUYEN BO LA MÁT TÍCH 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm người bị tòa án tuyên bố là mất tích Một người, có thé vì một lý do nào đó có thé đi biệt tích, không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết, dé bảo vệ quyền lợi của các cá nhân hoặc những chủ thể khác có liên quan khi một người mất tích. Được quy định theo Bộ luật Dân sự 2015 Con người khi còn sống còn có sự hiện diện ở một nơi nào đó bởi họ không thể không giao tiếp đối với những người khác hay tìm kiếm những gi dé phục vụ nhu cầu sống như ăn, mặc, ở. Những người khác vẫn còn có nhu cầu tiếp xúc hay gặp gỡ họ như vợ, con, cha, mẹ, bạn bè, đồng nghiệp hay những người thân khác hay những người cần giải quyết các công việc với họ.
Như vậy họ có các mối quan hệ xã hội mà cần tới sự hiện diện của họ để giải quyết ví dụ đóng thuế nhà, dat, trả tiền điện, nước, cấp dưỡng nuôi con. Sự thiếu hiện diện của họ có thé làm ach tắc nhiều quan hệ, nhiều công việc liên quan. Như vậy có thé nói “mat tích” trở thành một van dé xã hội lớn. Hiểu rất thông thường thì một người bị mắt tích tức là không thấy người đó xuất hiện ở đâu trong con mắt của những người chú ý tới họ, không hiện diện ở đâu mà moi người có thé thay.
Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp định nghĩa: “Mat tích là hoàn toàn không còn thấy tung tích, cũng không rõ một người còn sống hay đã chết”. Tuy nhiên luật dân sự chia sự không hiện diện của một người thành nhiều giai đoạn khác nhau với các mức độ khác nhau dé quy định vì không thé suy diễn là họ đã chết. + Giai đoạn đầu tiên là văng mặt tại nơi cư trú. Một người không xuất hiện tại nơi cư trú mà không có thông tin nào cho thấy là đã chết và không thê liên lạc được, tức là biệt tích, trong một khoảng thời gian phụ thuộc vào điểm đầu và điểm cuối của khoảng thời gian này được gọi là “vắng mặt”.
Sự vắng mặt này làm cho tắc nghẽn các hoạt động hay quan hệ xã hội có liên quan, ví dụ không thể tống đạt được các giấy tờ cần thiết hay không thể yêu cầu thực hiện được những nghĩa vụ, trách nhiệm nhất định. Hệ quả pháp lý tất yếu là những người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan có quyền yêu cầu cơ quan công quyền ra thông báo tìm kiếm và ra quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết dé quản lý tài sản của người này. Cơ quan nhà nước, công quyền khi ra quyết định phải căn cứ vào các điều kiện, trong khoa học pháp lý cho rằng có hai điều kiện: Thứ nhất, điều kiện cần là người có thê được xác định là văng mặt phải không hiện diện tại nơi cư trú trong một khoảng thời gian theo luật định; Thứ hai, điều kiện đủ là có người liên quan đệ đơn xin tòa án ra thông báo tìm kiếm và kết thúc tìm kiếm mà không thấy người đó thì tức là vắng mặt. Khoảng thời gian không hiện diện và luật định là khoảng thời gian được xác định bằng một điểm đầu và một điểm cuối.
Và trong suốt thời hạn đó, người đó không hiện diện. Vang mặt hay không hiện diện, không xuất hiện được giải thích như sau: “ngưng xuất hiện tại nơi cư trú và những nơi thường lui tới trong sinh hoạt, làm việc trong cuộc sống hàng ngày; ngưng giao tiếp bằng các phương tiện thông tin liên lạc thông dụng như điện thoại di động, email, facebook. Cả việc ngưng xuất hiện phải mang tính toàn diện, tuyệt đối và liên tục. Người bị cho là văng mặt phải hoàn toàn biệt tăm, biệt tích, không xuất hiện và không đáp ứng bat kỳ tín hiệu nao.” Người vắng mặt không phải là người chết hay bị coi là đã chết, cho nên không thé bị cham dứt các tài sản và các quyên lợi khác nhưng lại gây khó khăn cho người khác trong quan hệ xã hội, trong quan hệ dân sự, thương mại, hành chính.
Do đó pháp luật phải quy định đến việc quản lý tài sản của người vắng mặt mà trong đó có xử lý tài sản cho các nghĩa vụ buộc phải đáp ứng của người đó. + Giai đoạn thứ hai là “tuyên bỗ mat tích”. Một người biệt tích, tức là mọi thông tin liên lạc đều ngưng lại trong một khoảng thời gian, thì bị coi là biệt tích. Tuy nhiên mất tích buộc phải có dấu hiệu pháp lý thể hiện ra như trong một quá trình, tức là đã được thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống hay là đã chết (biệt tích), và phải được tòa án tuyên bố là mất tích.
Nói cách khác sự kiện biệt tích trong một khoảng thời gian chỉ được coi là mat tích khi được tòa án tuyên bố như vậy. Dé tuyên bố một người là mắt tích cần có đủ các điều kiện: + Thứ nhất, điều kiện cần là đã có thông báo tìm kiếm và không tìm kiếm được trong một khoảng thời gian theo đúng luật định; + Thứ hai, điều kiện đủ là có yêu cầu tuyên bố mat tích và được tòa án tuyên bố mat tích theo đúng pháp luật. 1 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự- Tập 1, nhà xuất bản, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.
Điều kiện thứ nhất liên quan tới sự kiện biệt tích và được xác định một cách khách quan theo luật định, tức là pháp luật quy định trình tự, thủ tục để xác định đúng sự thật khách quan là biệt tích. Điều kiện thứ hai liên quan tới yếu tổ pháp lý nhằm công khai và thừa nhận sự mat tích dé làm phát sinh ra hiệu lực pháp lý. Người có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố một người mất tích là những người có quyền hoặc lợi ích liên quan mà thường là những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng hoặc có quan hệ hành chính, lao động hoặc các quan hệ dân sự, thương mại khác, tức là họ bị ảnh hưởng về phương diện nào day khi người bị yêu cầu tòa án tuyên bố là mắt tích biệt tích. Tóm lại: Tuyên bỗ mất tích là việc thông báo hoặc công bố rang một người hoặc một sé người không thể được tìm thay hoặc liên lac được trong một khoảng thời gian dài mà không có thông tin hoặc dấu vết về vị trí hoặc tình trạng của họ.
Tuyên bố mất tích được đưa ra khi có sự lo ngại vé sự an toàn và trang thái của người đó. Nguyên nhân của mất tích có thé đa dang, từ việc lạc đường hướng, tai nạn, tội phạm, cho đến việc tự ý biến mắt.2 Khái niệm ly hôn với người bị tòa án tuyên bé là mắt tích Kết hôn và ly hôn là hai sự kiện pháp lý quan trọng nhất của luật hôn nhân và gia đình nói riêng và của luật dân sự nói chung dẫn đến những hệ quả pháp lý ảnh hưởng không chỉ tới hai vợ chồng mà còn ảnh hưởng lớn tới con cái và gia đình. Trước hết, kết hôn giữa hai bên nam và nữ thành vợ chồng là khởi nguồn của các câu chuyện gia đình. Tuy nhiên ở thời nay, nhiều nước coi hôn nhân không phải là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà như truyền thống phù hợp với lẽ tự nhiên, có thé là sự liên kết giữa hai người cùng giới để chung sống như vợ chồng.
Phong tục tập quán Việt Nam coi việc kết hôn là câu chuyện của nam và nữ đên với nhau như vợ chông đê xây dựng gia đình sau khi đã được đại gia đình chấp thuận. Lễ thành hôn còn được gọi là đám cưới phải được tô chức theo nghỉ thức truyền thống, và từ đó họ được xã hội thừa nhận là vợ chồng. Khi pháp luật can thiệp vào đời sống gia đình thì kết hôn giữa hai bên nam và nữ phải làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhau và từ đó làm phát sinh ra quan hệ gia đình. Những nghĩa vụ pháp lý trong gia đình đo luật định ra và bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng ché, vi dụ như vợ chồng phải yêu thương, giúp đỡ và bình đăng và tôn trọng lẫn nhau; cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chăm sóc, giáo dục con.
Vì vậy pháp luật có những quy định rất chặt chẽ và cu thé dé điều chỉnh những vấn đề phát sinh khi hôn nhân chấm dứt mà trong đó có ly hôn. Việc ly hôn có thé xảy ra một trong hai trường hợp, một là bên vợ hoặc bên chồng đơn phương ly hôn, hay còn gọi là ly hôn tôn theo yêu cầu của một bên, và trường hợp thứ hai là hai vợ chồng đều đồng thuận ly hôn, trường hợp cả vợ lẫn chồng đều tự nguyện, mong muốn chấm dứt hôn nhân giữa hai người được coi là thuận tình ly hôn. Khi ly hôn thường kèm theo thỏa thuận với nhau về chia tài sản chung, về nuôi con chung, hoặc phân chia việc nuôi con theo thống nhất giữa hai người, điều này được thể hiện qua đơn xin yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Trái ngược với thuận tình ly hôn là hai bên không thỏa thuận được với nhau, hoặc hai bên có đưa ra thỏa thuận nhưng không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên hoặc về van đề nuôi con cái thì họ yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Khi hai bên cùng đến cơ quan chức năng làm thủ tục đăng ký kết hôn, họ giao kết với nhau bằng văn bản có xác nhận của cơ quan chức năng, hoặc thời gian xa hơn nữa là có sự chứng kiến của thành phần người thân các bên, hoặc có thé hai bên tự nguyện chung sống với nhau, kết hôn là sự khởi đầu của quan hệ hôn nhân, hai bên đồng ý xác lập quan hệ vợ chồng thì việc ly hôn là sự chấm dứt mối quan hệ hôn nhân này. Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp cho rằng “chấm dứt quan hệ hôn nhân nghĩa là kết thúc sự tồn tại của hôn nhân trước pháp luật”. Như vậy ly hôn là một sự kiện có hai yếu tố là yếu tổ không thé chung sống của đôi vợ chồng và yếu tố quyết định của pháp luật thông qua tòa án.