Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Thực trạng dạy học nghĩa của câu và ứng dụng của nó trong việc lĩnh hội và tạo lập văn bản trong chương trình lớp 11 hiện nay Chương 3: Hướng dẫn HS lớp 11-THPT vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Cơ sở ngôn ngữ học 1. Khái niệm Khái niệm văn bản được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có một số cách định nghĩa văn bản phổ biến hiện nay như sau: - Văn bản: “ Chuỗi các đơn vị kí hiệu ngôn ngữ làm thành một thể thống nhất bằng mối liên hệ ý nghĩa mà thuộc tính cơ bản của nó là sự hoàn chỉnh về hình thức và nội dung; sản phẩm của lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn” [34; tr. 413] Cách định nghĩa này khá phổ biến, và theo đó, văn bản được gắn với khái niệm văn tự, chữ viết( bản chép tay, in ấn…) - “ Văn bản không hoàn toàn đồng nhất với “ ngôn ngữ viết” mà bao gồm, hay đúng hơn, là các hoạt động lời nói đã được “văn tự hóa” thành các phát ngôn.
Một đơn vị văn bản được tính bằng một hiệu lực giao tiếp có tính độc lập giao tiếp, hoàn thành nhiệm vụ giao tiếp trong một hoàn cảnh phát ngôn nhất định. Đặc biệt nó gắn với một chủ thể nhất định đã sáng tạo ra nó…”[30; tr. 69] Cách định nghĩa thứ hai gắn văn bản với hoạt động giao tiếp, môi trường sản sinh và tồn tại của văn bản. Ở đây, chúng tôi nhận diện văn bản, phân loại văn bản sao cho phù hợp với việc truyền thụ kiến thức cho học sinh phổ thông, đặc biệt đảm bảo tính hệ thống của chương trình Ngữ văn bậc phổ thông.
Vì vậy chúng tôi xin không bàn đến tính đúng sai của các định nghĩa, mà từ các định nghĩa này, chúng tôi nhận ra những kiến thức quan trọng về văn bản phục vụ cho việc vận dụng dạy học được đặt ra ở đề tài nghiên cứu này. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm của văn bản Dù định nghĩa theo cách nào, chúng ta cũng cần thừa nhận một số các đặc điểm cơ bản của văn bản sau đây: - Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ về mặt cấu trúc nghĩa( nội dung) và cấu trúc hình thức. +/Về mặt nội dung: văn bản có một chủ đề nhất định, toàn bộ văn bản gắn kết với nhau về mặt ý nghiã, tập trung thể hiện một chủ đề.
Điều này giúp ta phân biệt với các tổ hợp ngôn ngữ không là văn bản- có nhiều câu, nhiều đoạn được ghép với nhau nhưng không có quan hệ gì về ý nghĩa. Văn bản bao giờ cũng phải thể hiện được chủ đích của người tạo lập nó. +/ Về mặt hình thức: các câu trong văn bản có những mối liên hệ, quan hệ nhất định. Toàn bộ những mối liên hệ ấy tạo nên cấu trúc của văn bản.
Như vậy văn bản không đơn thuần chỉ là chuỗi câu ghép lại. Mặt khác, tùy vào chủ đích mà người tạo lập văn bản phải chon lựa các phương tiện ngôn ngữ phù hợp, điều này tạo nên những cấu trúc khác nhau của các loại văn bản. - Văn bản tồn tại cả ở dạng nói và dạng viết - Văn bản có thể dài và có thể ngắn Vd : +/ đề thi +/ khẩu hiệu +/ ca dao, tục ngữ +/ tiểu thuyết… - văn bản có thể bao gồm trong nó nhiều tập hợp văn bản con khác nhau: Vd : Sách giáo khoa là một văn bản trong đó bao gồm nhiều văn bản con là các bài học. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phân loại văn bản Dựa vào các tiêu chí khác nhau, các nhà nghiên cứu phân loại văn bản cũng khác nhau. Dựa trên lập luận văn bản là đơn vị thuộc về nghĩa, thuộc về việc sử dụng ngôn ngữ, mỗi văn bản đều có mặt hình thức và mặt nghĩa, đồng thời, dựa trên quan điểm sư phạm phân loại văn bản để dùng vào viêc dạy học sinh tạo lập văn bản trong nhà trường, Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản” đã đưa ra một số loại văn bản nguyên mẫu chung thường dùng như sau [2; tr 497]: - Văn bản truyện kể( hay tự sự) - Văn bản miêu tả - Văn bản lập luận - Văn bản giải thích - Văn bản hội thọai Ở bậc học THCS, học sinh được học cách phân loại văn bản theo phương thức biểu đạt, theo đó học sinh phân biệt các loại văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành. Chương trình lớp 10 THPT phân loại văn bản theo phong cách chức năng ngôn ngữ bao gồm: - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt( thư, nhật kí…) - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật( thơ, truyện, tiểu thuyết…) - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học( sách giáo khoa, luận văn, luận án…) - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính(đơn, biên bản, nghị quyết…) - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận( hịch, tuyên ngôn, lời kêu gọi…) - Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí( bản tin, phóng sự, bài phỏng vấn…) 1. Lĩnh hội văn bản(đọc -hiểu văn bản) ở nhà trường THPT Chương trình cải cách giáo dục hiện nay đã đưa vào 2 nhóm văn bản là văn bản nhật dụng và văn bản văn học ( văn bản nghệ thuật) vào giờ đọc hiểu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn bản của môn Ngữ văn.
Phần lớn văn bản đưa vào chương trình môn Ngữ văn cho học sinh lĩnh hội là các văn bản văn học. Văn bản văn học trước hết là một loại văn bản nên nó có đầy đủ những đặc điểm của một loại văn bản thông thường, nhưng nó cũng có đặc trưng riêng biệt về mặt ngôn ngữ như tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả. Vì vậy, hiển nhiên là sự lĩnh hội các văn bản đó không bao giờ đơn nghĩa. Điều này đòi hỏi HS phải thay đổi quan niệm học, GV phải thay đổi quan niệm dạy.
Lĩnh hội văn bản không còn là sự áp đặt từ phía GV( giảng văn). GV định hướng, tổ chức các hoạt động nhằm hỗ trợ quá trình lĩnh hội văn bản của HS, HS nâng cao năng lực tự học. Người đọc ( HS và GV) tiếp xúc với văn bản ngôn từ, giải mã ngôn từ để tìm ra những lớp ý nghĩa của văn bản thậm chí là đồng sáng tạo, tạo ra lớp ý nghĩa mới. Lĩnh hội văn bản trong nhà trường đòi hỏi không chỉ lĩnh hội riêng giá trị của một văn bản, mà còn phải trang bị cho các em những công cụ để các em có thể tự lĩnh hội các văn bản khác ở những thời điểm khác.
Trong đó cần thiết phải trang bị các kĩ năng ngôn ngữ cho các em. Như vậy, lĩnh hội văn bản trong nhà trường không đơn thuần chỉ là một quá trình giải mã các kí hiệu ngôn ngữ để nắm bắt được nội dung văn bản, hiểu tác giả nói gì mà nó là bước nối liền giữa dạy lĩnh hội và tự lĩnh hội. HS được rèn luyện để trở thành người lĩnh hội có bản lĩnh, sáng tạo. Tạo lập văn bản ở trường THPT Tạo lập văn bản (làm văn), là một phân môn quan trọng ở bậc THPT.
HS được rèn luyện để có thể tạo lập được các kiểu văn bản từ dễ đến khó: Tự sự→Miêu tả →Biểu cảm→ Ứng dụng →Thuyết minh→ Nghị luận. Trong đó, chiếm đa số là tạo lập kiểu văn bản nghị luận. HS được trang bị và rèn luyện kĩ năng tạo lập từ câu, đoạn đến bài văn. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nghĩa của câu Như chúng tôi đã trình bày, nghĩa của câu là vấn đề ít được đề cập đến trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho dù đây là yếu tố không thể thiếu đối với mỗi câu. Trong quá trình giao tiếp, khi tạo lập một câu, bao giờ nhân vật giao tiếp cũng muốn biểu hiện những ý nghĩa nào đó. Nghĩa chính là cơ sở để tạo lập câu, cũng chính là nội dung mà câu biểu thị. Trước tiên, chúng tôi xin trích dẫn một cách giải thích khái niệm “nghĩa’ và xem đó như là kim chỉ nam để hiểu các phạm trù có liên quan: “ Nghĩa- 1.
Sự phản ánh các đối tượng của hiện thực ( các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình ) vào trong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh hiện thực trong nhận thức được hiện thực hóa. Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho người khác mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó. Toàn bộ các chức năng của các đơn vị ngôn ngữ, tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt nội dung của chúng. 143] Vấn đề cấu trúc nghĩa của câu là vấn đề khá phức tạp.Cách gọi tên, cách phân tích các thành phần nghĩa của câu là không đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay.
Cao Xuân Hạo trong “ Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1” đã phân tích cấu trúc nghĩa của câu như sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Phân tích cấu trúc nghĩa của câu theo Cao Xuân Hạo Câu ví dụ: Bài thi toán cháu được những nửa điểm cơ à ? Tiền giả định: các điều kiện tiên quyết để câu nói có thể đúng hoặc sai. Tiền đề ấy mà sai, cả câu nói thành vô giá trị. Vd: Cháu đã làm bài thi toán Hiển ngôn Hiển nghĩa : cái nghĩa biểu hiện rõ qua nguyên văn của câu nói. NGHĨA Vd: Bài thi toán của cháu được nửa điểm.
Hàm nghĩa : cái nghĩa trong bề sâu của quan hệ CỦA giữa các ngữ trong nguyên văn, suy ra được, diễn ra được bằng ít nhiều lời lẽ của nguyên văn. Vd: Vì thế là nhiều đối với cháu. CÂU Hàm ngôn Ẩn ý : cái ý nghĩa ẩn kín đằng sau nguyên văn, suy ra được từ tiền giả định, hiển nghĩa, hàm nghĩa và ngôn cảnh; nó thì có thể không được nhận ra nhưng cũng rất dễ chối vì hoàn toàn không được nói ra. Vd: Cháu kém quá đấy! ( Nguồn: [14; tr.