CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Nghiên cứu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ 1. Nghiên cứu lý luận hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Cho tới nay có nhiều lý thuyết giải thích tại sao các chủ thể trong nền kinh tế phải hợp tác với nhau. Lý thuyết về sự phụ thuộc nguồn lực của Pfeffer và Salancik (1978) luận giải thực tế có rất ít các tổ chức, quốc gia, cá nhân có khả năng tự đáp ứng nguồn lực quan trọng cho chính mình, do đó các tổ chức phải thiết lập mối quan hệ với nhau, tạo lợi thế cạnh tranh và duy trì sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Lý thuyết về nền kinh tế thể chế của Oliver (1990) liệt kê 6 lý do thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Thứ nhất, là yêu cầu về pháp lý đòi hỏi việc thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể là bắt buộc. Thứ hai, thực tế chỉ ra mỗi chủ thể có nguồn lực nhất định nên phải chia sẻ với nhau. Thứ ba, thực tế cũng chỉ ra các chủ thể kiểm soát tốt hơn nguồn lực thông qua hợp tác, chứ không phải một mình chiếm hữu.
Thứ tư, tính hiệu quả của hợp tác thể hiện bằng việc giảm chi phí. Thứ năm, hoạt động hợp tác giúp ích cho các chủ thể đối phó với môi trường hoạt động bất ổn. Cuối cùng và cũng quan trọng, hoạt động hợp tác hỗ trợ xây dựng và cải thiện hình ảnh, uy tín của các chủ thể. Khái niệm HTQT về KHCN được nghiên cứu theo nhiều quan điểm, có thể là mối quan hệ, là một cấu trúc thể chế, hay là một quá trình.
Các tổ chức quốc tế là người đi tiên phong theo quan điểm HTQT về KHCN là mối quan hệ. Theo quan điểm của nhóm chuyên gia tư vấn thuộc Ủy ban châu Âu (EU, 2012), HTQT về KHCN gắn với quá trình quốc tế hóa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi hoạt động HTQT về KHCN được hiểu là mối quan hệ hợp tác giữa những người tham gia hoạt động KHCN có lợi nhuận hay phi lợi nhuận được thể hiện rõ trong chính sách, hành động và nguồn lực nhằm ảnh hưởng tới hoạt động HTQT với các mục tiêu cụ thể của EU, thông qua các thỏa thuận song phương và đa phương. Cùng quan điểm HTQT về KHCN là mối quan hệ, các chuyên gia tư vấn thuộc nhóm Technopolis (EU) trong khuôn khổ các nước châu Âu Boekholt, Edler, 10 Cunningham, Flanagan (2009) đưa ra khái niệm HTQT về KHCN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Smith và Katz (2000) tiếp cận hoạt động HTQT về KHCN theo cấu trúc thể chế.
Tác giả nhận thấy bản chất hoạt động HTQT về KHCN phức tạp nên làm thế nào để phân chia và xác định hình thức hợp tác là quan trọng. Trên thực tế, các tổ chức có nhiều loại hình hợp tác khác nhau về cấu trúc, vai trò, mục tiêu, mức độ hợp tác. Một nhóm tác giả khác lại cho rằng hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình. Patel (1972), Schrage (1995), Katz và Martin (1997, tr.
7) thống nhất cùng quan điểm khi đưa ra định nghĩa: “Hợp tác khoa học là một quá trình làm việc chung với sự tham gia của hai hay nhiều bên để đạt được mục đích chung”. Campbell và các cộng sự (2005) định nghĩa: “hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình có mục đích làm việc chung lên kế hoạch, sáng tạo và giải quyết vấn đề và/hoặc quản lý các hoạt động khoa học”. 2) cho rằng “hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình xã hội”. Quan điểm HTQT về KHCN của Bozeman gắn với chủ thể tham gia là các nhà nghiên cứu của trường đại học, xuất phát từ nhu cầu của chính nhà nghiên cứu.
Bozeman cũng phân định hoạt động HTQT về KHCN với hai mục tiêu nghiên cứu nhằm gia tăng tri thức hoặc gia tăng của cải. Theo các quan điểm khác: Quan điểm của D’Amour, Ferrada - Videla, Rodriguez, và Beaulieu (2005) cho rằng hoạt động HTQT về KHCN thông thường gắn với 5 thuật ngữ cơ bản: chia sẻ nguồn lực (Sharing) con người, tri thức, trách nhiệm/quyền lực gắn liền với xây dựng năng lực nguồn lực xã hội, hợp tác giữa các pháp nhân (Partnership), mối quan hệ quyền lực (power), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependency) và quy trình hợp tác (process). Ynalvez và Shrum (2011) định nghĩa hoạt động HTQT về KHCN “là nơi các nhà khoa học từ các quốc gia khác nhau thực hiện dự án chung, hoặc chia sẻ dữ liệu chung để đạt được mục đích nghiên cứu”. Nghiên cứu về hình thức hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Smith và Katz (2000) đã chia hoạt động HTQT về KHCN theo các loại hình cấu trúc thể chế: hợp tác giữa các pháp nhân; hợp tác theo nhóm nghiên cứu; hợp tác giữa các cá nhân.
Tác giả cũng đồng thời chỉ ra đặc tính và lợi ích của từng loại hình kể trên. Hagedoorn (2000) nghiên cứu mối quan hệ đối tác ở Mỹ và châu Âu theo các tiêu chí: (i) xu hướng hình thành đối tác HTQT; (ii) các thành viên tham gia; (iii) 11 động cơ tham gia; (iv) lợi ích thu được từ hoạt động đối tác. Đối tác HTQT có thể được hình thành thông qua mối quan hệ hoặc cấu trúc thể chế trong mối quan hệ, giữa các thành viên trong khu vực công, giữa các thành viên trong khu vực tư nhân hoặc giữa thành viên ở trong cả hai khu vực. Theo chủ thể tham gia, Isabelle (2007) lại chia các loại hình hợp tác thành hợp tác giữa các cá nhân gồm 2 - 3 người; giữa các tổ chức ở các quốc gia với nhau; giữa các nhóm nghiên cứu.
Katz và Martin (1997) chia hoạt động HTQT về KHCN theo chủ thể tham gia gồm: giữa các cá nhân; giữa các tổ chức; giữa nhóm nghiên cứu quốc tế. Heimeriks, Horleberger và các cộng sự (2003) cũng chia hoạt động HTQT về KHCN thành 5 loại hình cơ quan chính phủ và quốc tế, doanh nghiệp tư vấn, các tổ chức phi thương mại, các tổ chức nghiên cứu theo hợp đồng, và trường đại học. EU (2012) lại phân chia loại hình HTQT về KHCN theo chủ thể gắn với chức năng và đặc điểm của các chủ thể, gồm cá nhân nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và các công ty. Cá nhân nhà khoa học gắn với các hoạt động: (i) hợp tác nghiên cứu; (ii) tài trợ nghiên cứu; (iii) di chuyển thể nhân.
Các công ty có thể hợp tác nghiên cứu với các công ty và với các trường đại học theo dự án. Những năm 1990, các nghiên cứu, đi đầu là lý thuyết của Etzkowitz và Leydesdorff (1998) với mô hình Triple Helix tập trung vào mối quan hệ giữa trường đại học, khu vực doanh nghiệp và Chính phủ - những chủ thể trước đây được coi là các khu vực tương đối độc lập với nhau. Đối lập với lý thuyết truyền thống sản xuất tri thức đơn ngành, mô hình tác giả đưa ra chứng minh hoạt động đổi mới sáng tạo đòi hỏi mối quan hệ tổ chức nhiều bên ở nhiều giai đoạn trong quá trình thương mại hóa tri thức, trong đó, tri thức được tạo ra phát triển thông qua mối quan hệ hợp tác ba bên hơn là chỉ chuyển giao tri thức. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hợp tác giữa Chính phủ và trường đại học, một số tác giả nhận thấy nhiều ưu điểm.
Trường đại học có khả năng hợp tác thực hiện nhóm nghiên cứu đa ngành theo năng lực nghiên cứu đơn ngành của trường (Bozeman, 2000). Sự phối hợp giữa trường đại học, khu vực doanh nghiệp giúp xây dựng năng lực sáng tạo quốc gia (Bercovitz & Feldmann, 2006). Afzal và cộng sự sử dụng mô hình Triple Helix đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, vị thế của 4 trường đại học nghiên cứu của Malaysia trong khu vực. Số lượng đối tác hợp tác quốc tế là công ty cho các trường đại học tương đối ổn định, vẫn được 12 duy trì ở mức 75%.
Động cơ HTQT liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ, tuyển dụng nhà nghiên cứu/ chuyên gia từ nước ngoài, thương mại hóa sáng kiến và công nghệ, chia sẻ trang thiết bị nghiên cứu từng bước đưa các trường đại học Malaysia có vị thế quốc tế. Carayannis và Campbell (2009) thêm trục thứ tư là truyền thông và văn hóa (media - based và culture - based public) vào mô hình Triple helix tạo nên Quadruple helix gắn với phương thức sản xuất tri thức thứ ba ở cấp độ toàn cầu hóa trong hệ thống vĩ mô. Tác giả nhấn mạnh khi Chính phủ thiết kế chính sách về KHCN và ĐMST, cần phải chú ý tới vai trò của công chúng như quyền tham gia góp ý, phản biện chính sách thông qua các phương tiện truyền thông. Theo theo các lĩnh vực nghiên cứu HTQT về KHCN được chia theo các lĩnh vực đơn ngành của các trường đại học, như khoa học về con người, khoa học tự nhiên, khoa học cơ khí và công nghệ (Katz và Martin 1997).
Luukkonen, Persson và cộng sự (1992) nhận thấy ba lĩnh vực thường xuyên diễn ra hoạt động HTQT giai đoạn 1970 - 1990 là khoa học không gian, toán học và vật lý. Theo lĩnh vực nghiên cứu, Lariviere và cộng sự (2015), Kweik (2015) nhận thấy lĩnh vực khoa học tự nhiên có số lượng công bố quốc tế nhiều hơn lĩnh vực khoa học nghệ thuật và nhân văn, trong đó số lượng bài nghiên cứu về vật lý và toán học chiếm tỷ trọng tương ứng 75% và 50%. Tuy nhiên, việc phân chia HTQT về KHCN theo các ngành khoa học này dường như không hợp lý khi thế giới chuyển sang giai đoạn HTQT đa ngành và phức tạp. Nhiều loại hình HTQT về KHCN cũng ra đời, như hợp tác nghiên cứu kèm với sử dụng phòng thí nghiệm là một hình thức hợp tác nghiên cứu bao phủ rộng khắp khu vực hoặc toàn cầu, hỗ trợ sự tương tác con người theo định hướng nghiên cứu chung, thúc đẩy sự liên hệ giữa các nhà nghiên cứu, những người có thể biết hoặc không biết nhau, và cho phép sử dụng dữ liệu chung để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, hoặc phục vụ các sáng kiến khoa học của cộng đồng (Finholt 2003; Sonnenwald 2003, Dacid 2004).
Theo vị trí địa lý, Wayner (2006, tr. 7) hoạt động HTQT thông qua các dự án nghiên cứu tạo ra tri thức ở 4 cấp độ: địa phương, quốc gia, khu vực, và toàn cầu. HTQT về KHCN ở cấp độ toàn cầu hoàn toàn phụ thuộc vào sáng kiến cá nhân nhà nghiên cứu, quyết định ai sẽ tham gia vào mạng lưới nghiên cứu toàn cầu.