Mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn nghiên cứu vấn đề nêu trên gồm 3 chương: + Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về nguồn lực khoa học và công nghệ trong ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Hiện trạng nguồn lực khoa học và công nghệ trong ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện Khoa học và Công nghệ. Nhận diện được những rào cản về nguồn lực KH&CN trong quá trình hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN, Viện Hàn lâm KHCNVN.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn lực KH&CN Nguồn lực KH&CN là những yếu tố đầu vào đảm bảo cho hoạt động KH&CN như: Con người (nhân lực KH&CN), Tài chính KH&CN (tài lực), Thông tin KH&CN (tin lực), cơ cở vật chất (vật lực). Cụ thể: Nhân lực KH&CN Theo từ điển tiếng Việt: nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong Ban lãnh đạo của tổ chức, đơn vị hay doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển đơn vị.
Theo Liên hiệp Quốc thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Theo Tổ chức lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi Cơ quan, doanh nghiệp. - 12 - z Đứng trên các giác độ khác nhau, khi nghiên cứu Nguồn nhân lực, rất nhiều học giả đưa ra các khái niệm khác nhau về nhân lực cho mục tiêu nghiên cứu. Khái niện về nhân lực KH&CN có thể được hiểu theo những cách khác nhau.
Theo định nghĩa của UNESCO là toàn bộ những người đang trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong các cơ quan, tổ chức được và được trả lương/tiền công, còn theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) là toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu lao động có bằng chuyên môn về một lĩnh vực KH&CN nào đó từ cao đẳng trở lên, hoặc không có bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên. Nguyễn Thị Quỳnh Giang - Viện Khoa học tổ chức nhà nước [10] đã nêu ra một số Quan niệm về nhân lực KH&CN của một số nước trên Thế giới như sau: - Quan niệm về nhân lực KH&CN của Nhật Bản và Đức Ở Nhật Bản và Đức, nhân lực khoa học công nghệ được hiểu theo trường phái quan niệm của khối các nước OECD. Theo đó, nhân lực khoa học công nghệ là những người đã tốt nghiệp đại học về mặt học vấn hoặc đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo. Thước đo học thuật là đầu vào cơ bản trong hệ thống nhân lực khoa học công nghệ, thông thường là bằng cử nhân đại học.
Thước đo để tính toán nhu cầu của hệ thống nhân lực khoa học công nghệ chính là các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Theo báo cáo nghiên cứu cấu trúc lao động các quốc gia OECD năm 2010 cho thấy, ở hầu hết các quốc gia thành viên OECD, bao gồm Nhật Bản và Đức, đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng 1/4 tổng số lao động, tập trung trong khu vực dịch vụ, nghiên cứu nhiều hơn so với khu vực sản xuất ra các mặt hàng thương mại, công nghiệp, tiêu dùng. Nhân lực khoa học và công nghệ ở Nhật Bản và Đức bao gồm 3 nhóm là: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật và tương đương, và nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển. - 13 - z - Quan niệm về nhân lực KH&CN của Thái Lan Theo quan điểm của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), nhân lực khoa học công nghệ là tổng số nhân lực có trình độ hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang công tác hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong một tổ chức hoặc đơn vị, và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ.
Nhóm này gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhóm nhân viên hỗ trợ. Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt, đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do đó, Thái Lan coi đây là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ. - Quan niệm về nhân lực KH&CN của Xinh-ga-po Quan niệm của Xinh-ga-po không phân biệt nhân lực khoa học công nghệ là công dân của Xinh-ga-po hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Xinh-ga-po, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Xinh-ga-po chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực của Xinh-ga-po.
Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Xinh-ga-po cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật. Chính phủ Xinh-ga-po đã sớm xác định được quan niệm quốc gia về nhân lực khoa học công nghệ và kiên trì thống nhất các chính sách, hoạt động trên mọi lĩnh vực phục vụ phát triển khoa học công nghệ. Xinh-ga-po xác định chiến lược phát triển xây dựng một hệ thống tương đối hoàn thiện từ thể chế, chính sách đến các chương trình học bổng, lương bổng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của quốc gia. - Quan niệm về nhân lực KH&CN của In-đô-nê-xi-a - 14 - z Quan điểm chỉ đạo về vai trò và tầm quan trọng của nhân lực khoa học và công nghệ tại In-đô-nê-xi-a đã chỉ ra rằng cải thiện năng lực khoa học và công nghệ của quốc gia nói chung và năng lực khoa học và công nghệ của đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chính là trụ cột chính trong kế hoạch tổng thể thúc đẩy phát triển và mở rộng nền kinh tế của In-đô-nê-xi-a.
Tuy nhiên, trong nhiều văn bản luật của Chính phủ nước này chưa thể hiện rõ ràng định nghĩa về nhân lực khoa học, công nghệ mà thường chú trọng nhắc đến đối tượng “sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm trong các ngành khoa học, công nghệ” và “đào tạo tại chỗ cho những người đang công tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trở lên thạo việc, lành nghề và hiểu biết rộng hơn”. - Quan niệm về nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay Theo Bộ Khoa học – Công nghệ vận dụng khái niệm nêu trong Luật Khoa học – Công nghệ đã có quy định cụ thể hơn về quan niệm nhân lực khoa học và công nghệ gồm các đối tượng “Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương”. Hệ thống nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng, mặc dù về lý thuyết quan niệm của Việt Nam phù hợp với các nét chủ đạo trong quan niệm thế giới, và thể hiện tính mới trong việc bao gồm cả đối tượng “Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam” nhưng trên thực tế mới chỉ phản ánh được “tổng số nhân lực có trình độ”. Ngoài ra, số lượng cán bộ khoa học và công nghệ làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển hiện vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta.
Bên cạnh đó, tư tưởng chuộng hư danh, trọng thành tích, dẫn đến xao lãng bản chất thực, trình độ thực, giấu dốt, không dám công khai học hỏi và chia sẻ ý kiến phát minh sáng tạo, chưa tạo được môi trường tích cực để học hỏi, phát - 15 - z minh, sáng kiến và bảo vệ các phát minh, sáng kiến. Chế độ đãi ngộ với những người tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chưa thích đáng. Khu vực công còn chậm đón nhận và chưa bắt kịp với các hoạt động đổi mới, sáng tạo trong xã hội và khoa học, công nghệ dẫn đến chưa phù hợp để tổ chức, quản lý và bồi dưỡng phát triển nhân lực khoa học, công nghệ. Tài chính KH&CN là các khoản tiền dành cho việc đầu tư cho hoạt động KH&CN gồm các nguồn: ngân sách nhà nước; doanh nghiệp/cá nhân; quỹ KH&CN của doanh nghiệp; quỹ đầu tư mạo hiểm; quỹ cá nhân dành cho khoa học và các nguồn khác như: thu từ hợp đồng nghiên cứu, hợp đồng chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ KH&CN giữa tổ chức/cá nhân thực hiện và bên đặt hàng,.