Tổng quan nghiên cứu
Tiến trình đổi mới cơ chế quản lý khoa học tại Việt Nam ghi nhận dấu mốc quan trọng khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP lần lượt được ban hành vào năm 2005 và 2006. Chính sách này mở đường cho việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực thi trong giai đoạn 2006 - 2014, bức tranh thực tế cho thấy tỷ lệ đơn vị chuyển đổi thành công trên toàn quốc vẫn còn khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng dưới 15% tổng số các viện và trung tâm nghiên cứu.
Phần lớn các công trình trước đây chủ yếu tập trung mổ xẻ những khó khăn, rào cản hành chính hoặc sự chậm trễ trong việc tháo gỡ cơ chế cấp phát ngân sách. Vấn đề đặt ra là cần phân tích sâu các bài học thành công thực tiễn để tìm ra công thức chuyển dịch hiệu quả. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện, phân tích và hệ thống hóa các nhân tố quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Phạm vi không gian của nghiên cứu khảo sát các tổ chức khoa học và công nghệ tiêu biểu trên phạm vi toàn quốc, trọng tâm tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Hà Nam trong khung thời gian từ năm 2006 đến năm 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở luận cứ hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ tự chủ tài chính từ 30% lên trên 80% cho các tổ chức khoa học công nghệ ứng dụng trong giai đoạn mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quyền tự trị của khoa học được xây dựng bởi các học giả kinh điển như Maurice Goldsmith, Dworkin (1988), Ziman (2000) và Bush (1945). Lý thuyết này phân định rõ giữa năng lực tự chủ (khả năng nhận thức, lập luận, ra quyết định chuyên môn) và quyền tự chủ (quyền hạn pháp lý trong quản trị tài sản, nhân sự và chiến lược hoạt động). Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp lý thuyết chuyển đổi hệ thống khoa học công nghệ trong nền kinh tế thị trường của Etzkowitz (1998), Gibbons (1994) và Shulin Gu (1995) để phân tích sự thích ứng của các viện nghiên cứu khi dịch chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.
Khung phân tích kế thừa mô hình 4 cấu trúc tổ chức khoa học và công nghệ của Giáo sư Vũ Cao Đàm, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa tổ chức nghiên cứu - triển khai, doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp tư vấn chuyển giao. Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: tự chủ tự chịu trách nhiệm, hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), thương mại hóa công nghệ và dịch vụ khoa học công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 80/2007/NĐ-CP, Nghị định 96/2010/NĐ-CP cùng các báo cáo tổng kết giai đoạn 2006 - 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu định tính theo trường hợp điển hình đối với 5 tổ chức tiêu biểu: Viện Dầu khí Việt Nam, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, Liên hiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao tại Hải Phòng, Trung tâm Tiết kiệm năng lượng và Sản xuất sạch hơn, Trung tâm Nông - Lâm công nghệ cao Hải Phòng.
Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia được tiến hành trên cỡ mẫu gồm 09 chuyên gia đầu ngành, bao gồm 03 chuyên gia lĩnh vực khoa học công nghệ, 03 chuyên gia đánh giá chính sách và 03 nhà quản lý cấp bộ ngành cùng đội ngũ lãnh đạo trực tiếp quản lý các viện nghiên cứu. Phương pháp phân tích trường hợp kết hợp tham vấn chuyên gia được lựa chọn vì số lượng đơn vị thành công trong thực tế chưa nhiều, đòi hỏi phương pháp tiếp cận chuyên sâu để làm rõ bản chất các mối liên kết thị trường thay vì thống kê mô tả thuần túy. Toàn bộ quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu được thực hiện tập trung từ năm 2012 đến năm 2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, thị trường là nhân tố quyết định hàng đầu chi phối sự thành công của quá trình chuyển đổi. Tại các đơn vị thành công điển hình như Viện Dầu khí Việt Nam và Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, hơn 70% nguồn thu tài chính được tạo lập từ các hợp đồng dịch vụ công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu với doanh nghiệp, trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp phát giảm xuống dưới mức 30%.
Thứ hai, năng lực tự chủ tài chính tỷ lệ thuận với khả năng thương mại hóa sản phẩm khoa học. Các đơn vị chuyển đổi thành công đạt tỷ lệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên từ 100% đến 120% dự toán năm, vượt xa mức trung bình chỉ đạt từ 15% đến 25% ở nhóm các đơn vị gặp bế tắc trong quá trình chuyển đổi.
Thứ ba, việc xác lập quyền tự chủ về bộ máy biên chế và nhân lực tạo động lực thúc đẩy năng suất lao động. Các tổ chức chuyển đổi thành công đã chủ động tinh gọn bộ máy hành chính gián tiếp xuống dưới 20% tổng số lao động, đồng thời nâng thu nhập bình quân của cán bộ nghiên cứu lên gấp 2 đến 3,5 lần so với thang bảng lương sự nghiệp nhà nước thông thường.
Thứ tư, có sự khác biệt rõ nét về tốc độ chuyển dịch giữa các mô hình tổ chức. Các trung tâm ứng dụng chuyển giao công nghệ tại địa phương thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP có tốc độ hoàn thành tự chủ nhanh hơn 40% so với các viện nghiên cứu cơ bản triển khai theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP nhờ tính gắn kết sẵn có với thị trường tiêu thụ tại địa phương.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi giúp các tổ chức bứt phá thành công là sự thay đổi căn bản trong tư duy điều hành: chuyển từ cơ chế thụ động xin - cho sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ theo tín hiệu thị trường. Khi gắn kết được quyền lợi của nhà khoa học với kết quả thương mại hóa, chuỗi giá trị từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến sản xuất thử nghiệm dạng Pilot đều được vận hành linh hoạt.
Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Shulin Gu (1995) và Meske (1994) về kinh nghiệm chuyển đổi hệ thống nghiên cứu công nghệ tại các nước đang phát triển, đồng thời kiểm chứng luận điểm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước về tính tất yếu của việc xóa bỏ cơ chế bao cấp.
Trong báo cáo thực tế, dữ liệu có thể được thể hiện trực quan qua biểu đồ hình tròn phản ánh cơ cấu dịch chuyển dòng tiền với 75% doanh thu thị trường và 25% ngân sách nhà nước tại các đơn vị thành công. Bên cạnh đó, một bảng ma trận đối chiếu 5 tiêu chí chính bao gồm doanh thu dịch vụ, tỷ lệ tự chủ biên chế, số lượng công nghệ chuyển giao, thu nhập bình quân và mức độ độc lập ngân sách giữa nhóm thành công và nhóm trì trệ sẽ làm nổi bật sự vượt trội của mô hình tự chủ hoàn toàn.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý và hệ thống tiêu chí phân loại tổ chức nghiên cứu. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Nội vụ cần ban hành bộ tiêu chuẩn phân hạng rõ ràng giữa đơn vị nghiên cứu cơ bản và đơn vị nghiên cứu ứng dụng trước năm 2016, đảm bảo 100% tổ chức nghiên cứu ứng dụng có đề án chuyển đổi tự chủ phù hợp.
Thứ hai, đổi mới phương thức cấp phát và phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước. Cơ quan quản lý tài chính cần chuyển đổi tối thiểu 60% kinh phí cấp phát hành chính sang hình thức đấu thầu, đặt hàng nhiệm vụ khoa học công khai trong giai đoạn 2015 - 2018, đồng thời mở rộng cơ chế quỹ phát triển khoa học công nghệ nhằm tài trợ trực tiếp theo kết quả đầu ra.
Thứ ba, thúc đẩy thương mại hóa và phát triển mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc viện. Ban lãnh đạo các viện nghiên cứu cần chủ động thành lập các doanh nghiệp trực thuộc để thương mại hóa sáng chế, phấn đấu đưa tỷ trọng nguồn thu từ hợp đồng chuyển giao công nghệ đạt tối thiểu 65% tổng ngân sách hoạt động trong vòng 3 năm sau chuyển đổi.
Thứ tư, cải cách triệt để chính sách quản trị nhân sự và đãi ngộ nhân tài. Các đơn vị sự nghiệp cần thực hiện khoán quỹ lương gắn liền với kết quả công việc, nâng tỷ lệ trích thưởng từ doanh thu hợp đồng dịch vụ khoa học từ 30% đến 50% cho nhóm tác giả trực tiếp tạo ra công nghệ, hoàn thành triển khai áp dụng đồng bộ trong giai đoạn 2015 - 2017.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách bao gồm Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và Sở Khoa học và Công nghệ tại 63 tỉnh thành. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh chính sách, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các đề án tự chủ xuống dưới 45 ngày làm việc.
Nhóm lãnh đạo các viện nghiên cứu và trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ công lập. Các nhà quản lý có thể ứng dụng các bài học thực chứng từ mô hình tự chủ 100% của Viện Dầu khí Việt Nam và Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp để tái cấu trúc tổ chức và nâng cao hiệu quả thương mại hóa.
Nhóm doanh nghiệp và hiệp hội công nghiệp trong khu vực tư nhân. Khối doanh nghiệp có thể nắm bắt cơ chế hợp tác công tư, tìm kiếm cơ hội đầu tư phát triển thương mại cho hơn 20 nhóm sản phẩm công nghệ tiềm năng do các viện công lập nghiên cứu chế tạo.
Nhóm giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị công. Công trình cung cấp tài liệu học thuật giá trị với hơn 70 tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế về chuyển đổi thể chế kinh tế tri thức.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 115/2005/NĐ-CP khác biệt như thế nào so với Nghị định 43/2006/NĐ-CP?
Nghị định 115 tập trung trực tiếp vào đặc thù sáng tạo công nghệ, yêu cầu đơn vị tự chủ gắn với chuyển giao sản phẩm ra thị trường. Trong khi đó, Nghị định 43 áp dụng chung cho đơn vị sự nghiệp công với thang phân loại 4 mức độ tự chủ tài chính từ 0% đến 100%, giúp các trung tâm dịch vụ kỹ thuật dễ dàng tự chủ kinh phí thường xuyên hơn.
Tại sao thị trường lại là yếu tố đóng vai trò cốt lõi trong chuyển đổi tự chủ?
Thị trường tạo ra dòng tiền độc lập và bền vững giúp tổ chức giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Điển hình tại Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, việc chủ động bám sát thị trường cơ khí chính xác đã mang lại hơn 80% doanh thu từ các hợp đồng dịch vụ chế tạo máy, tạo nguồn lực tái đầu tư nghiên cứu lâu dài.
Luận văn đã tiến hành khảo sát thực tế tại những đơn vị tiêu biểu nào?
Tác giả đã khảo sát chuyên sâu tại 5 tổ chức khoa học công nghệ, bao gồm Viện Dầu khí Việt Nam, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, Liên hiệp sản xuất công nghệ cao Hải Phòng, Trung tâm Tiết kiệm năng lượng và Trung tâm Nông - Lâm công nghệ cao Hải Phòng trong khung thời gian từ 2006 đến 2014.
Các viện nghiên cứu cơ bản có bắt buộc phải tự chủ tài chính 100% không?
Không nên áp dụng cơ chế tự chủ tài chính toàn phần cho nghiên cứu cơ bản. Các nghiên cứu cơ bản mang tính nền tảng dài hạn, rủi ro cao và khó thương mại hóa ngay nên Nhà nước vẫn cần cam kết đảm bảo cấp phát ổn định từ 70% đến 100% kinh phí hoạt động thường xuyên để duy trì năng lực khoa học quốc gia.
Nhà khoa học được hưởng quyền lợi cụ thể gì khi đơn vị chuyển đổi thành công?
Nhà khoa học được trao quyền tự chủ đề xuất hướng nghiên cứu, trực tiếp tham gia đàm phán thương mại hóa công nghệ và hưởng thu nhập thỏa đáng theo năng suất lao động. Tại các đơn vị đã chuyển đổi thành công, thu nhập của cán bộ nghiên cứu tăng từ 2 đến 3,5 lần so với thang bảng lương nhà nước cũ.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tự trị khoa học và tổng kết thực trạng thực thi chính sách tự chủ tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2014.
- Khẳng định nhân tố thị trường cùng năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu là chìa khóa then chốt giúp các viện nghiên cứu đạt mức tự bảo đảm kinh phí trên 100%.
- Chỉ rõ sự cần thiết phải xóa bỏ triệt để cơ chế cấp phát bình quân, chuyển mạnh sang hình thức đấu thầu và đặt hàng nghiên cứu theo kết quả đầu ra.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về thể chế, tài chính, mô hình doanh nghiệp khoa học và chính sách nhân sự cho lộ trình 2015 - 2020.
- Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo học thuật chất lượng cao với hơn 70 nguồn tài liệu trong nước và quốc tế phục vụ công tác đào tạo, quản trị khoa học.
Bước đi tiếp theo trong giai đoạn 2015 - 2020 đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải khẩn trương hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc cơ chế. Hãy khai thác ngay những phát hiện và khuyến nghị giá trị từ luận văn này để xây dựng lộ trình tự chủ bứt phá, góp phần kiến tạo hệ sinh thái khoa học và công nghệ năng động, hiệu quả.