Chương 1: Khái quát về hợp tác kinh tế VBBMR - Chương 2: Thực trạng hợp tác kinh tế VBBMR, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam - Chương 3: Định hướng hợp tác của Việt Nam và một số kiến nghị, giải pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG 1. Khái quát về Vịnh Bắc Bộ và phạm vi hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng (VBBMR) 1.Vịnh Bắc Bộ Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía Tây Bắc Biển Đông, một biển lớn và thuộc loại phức tạp nhất trong khu vực và trên thế giới, có vai trò hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh. Đây là một vịnh nửa kín, được bao bọc hoàn toàn bởi bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc, có diện tích 126.250 km2, chiều dài khoảng 496 km, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất là cửa vịnh khoảng 207,4 km (102 hải lý). Vịnh Bắc Bộ thông ra Biển Đông qua 2 cửa: cửa chính ở phía Nam, từ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị, Việt Nam) tới mũi Ăng Ca (đảo Hải Nam, Trung Quốc) rộng 207,4 km và cửa phía Bắc là eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam, Trung Quốc) rộng 35,2 km.
Vịnh Bắc Bộ tương đối nông, độ sâu trung bình chỉ 40 - 50 mét (chiếm hơn 60% diện tích đáy vịnh), nơi sâu nhất ở khu vực cửa Vịnh cũng không quá 100 mét. Đáy vịnh tương đối bằng phẳng và thoải dần theo hướng Đông Nam. Phần thềm lục địa của Việt Nam thuộc Vịnh Bắc Bộ rộng khoảng 60.000 km2, chiếm 48% diện tích toàn Vịnh. Tại vùng biển phía Việt Nam có hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó hầu hết tập trung ở khu vực ven bờ Quảng Ninh và Hải Phòng; phía Trung Quốc, ngoài đảo Hải Nam là đảo lớn nhất tiếp giáp Vịnh Bắc Bộ chỉ có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc như Vị Châu, Tà Dương.
Đặc biệt phía Việt Nam có đảo Bạch Long Vỹ rộng khoảng 2,5 km2 nằm gần giữa vịnh (cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km) và đảo Cồn Cỏ rộng khoảng 3 km2, cách Mũi Lay (Quảng Trị) khoảng 24 km. Những đảo này có vị trí 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh, đồng thời là căn cứ hậu cần vững chắc để vươn ra khai thác biển khơi, phát triển kinh tế biển. Khu vực hợp tác kinh tế VBBMR Phạm vi không gian hợp tác kinh tế VBBMR được xác định không thật sự rõ ràng. Ban đầu, khi Trung Quốc mới đưa ra sáng kiến hợp tác này, không gian hợp tác được xác định là một số tỉnh, thành phố phía nam của Trung Quốc và các nước ASEAN dọc theo Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore, như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Brunei.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hợp tác cũng như các Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR, Trung Quốc đã mời thêm các nước Myanmar, Philippines tham gia. Theo Lộ trình hợp tác kinh tế VBBMR mà Trung Quốc đưa ra tháng 7/2012, không gian hợp tác còn được mở rộng trong thời gian tới, với sự tham gia của Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan. Theo tính toán của Nhóm chuyên gia hỗn hợp Trung Quốc và ASEAN, thì ngay ở thời điểm Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR, năm 2008, khu vực hợp tác kinh tế VBBMR đã có quy mô dân số 1,8 tỷ người; tổng GDP khoảng 5,7 nghìn tỷ USD và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 4,4, nghìn tỷ USD [1, tr. Ý tƣởng, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu 1.
Sự ra đời của ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR Hợp tác kinh tế VBBMR diễn ra trong bối cảnh những năm gần đây Trung Quốc tập trung xây dựng điểm tăng trưởng mới Trung Quốc - ASEAN nhằm khai thác vai trò của Quảng Tây làm cầu nối (cả trên bộ và trên biển) trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Với chiến lược "Một trục hai cánh", Trung Quốc chủ trương hình thành hai mảng hợp tác lớn trong khu vực là hợp tác kinh tế trên biển (Hợp tác kinh tế xuyên Vịnh Bắc Bộ) và hợp tác kinh tế trên bộ (Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore) nhằm thúc đẩy hợp tác toàn diện Trung Quốc - ASEAN. Tháng 7 năm 2006 tại Diễn đàn hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Nam Ninh (Trung Quốc), ông Lưu Kỳ Bảo, Bí thư Đảng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây lần đầu tiên đưa ra sáng kiến một trục hai cánh (một trục là Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore và hai cánh là Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và Hợp tác kinh tế VBBMR). Việc hình thành“Một trục hai cánh” sẽ lôi kéo sự tham gia của các nước ASEAN.
Sáng kiến này đã nhanh chóng được Chính phủ Trung ương Trung Quốc phê chuẩn và ủng hộ, đồng thời các bộ, ngành và địa phương triển khai tích cực. Mục tiêu và những nội dung hợp tác chủ yếu Mục tiêu chung “Báo cáo nghiên cứu khả thi hợp tác kinh tế VBBMR”, do Nhóm chuyên gia hỗn hợp hợp tác kinh tế VBBMR gồm các chuyên gia của Trung Quốc và các nước ASEAN soạn thảo, đã thông qua tháng 9/2011 xác định mục tiêu chung của hợp tác kinh tế VBBMR là: Thiết lập một cơ chế hợp tác tiểu vùng, tạo đòn bẩy toàn diện cho hệ thống vận tải trên biển và duyên hải, tăng cường hợp tác cảng biển và tiếp vận, đẩy mạnh liên kết công nghiệp và phân công lao động, phát triển các ngành kinh doanh duyên hải, hợp tác phát triển tài nguyên biển, xúc tiến phát triển các thành phố ven biển, thiết lập các cụm cảng hỗ trợ lẫn nhau, các cụm công nghiệp và cụm thành phố với sự bổ sung mạnh mẽ và tính đa dạng, đồng thời đẩy nhanh việc phát triển bền vững kinh tế, xã hội trong khu vực [1. Mục tiêu riêng của Trung Quốc Mục tiêu chính của Trung Quốc trong sáng kiến “Một trục hai cánh” nói chung và hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng là: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về Chiến lược an ninh + Củng cố môi trường hòa bình, ổn định xung quanh, tạo vành đai an ninh ở phía Nam, tăng sự hiện diện, nâng cao vị thế nước lớn của Trung Quốc ở Đông Nam Á. + Ngăn chặn ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, Nhật ở khu vực này, nhất là trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược “trở lại châu Á” trong năm 2012.
- Đối với Biển Đông Trung Quốc muốn thông qua hợp tác kinh tế VBBMR để khẳng định chủ quyền, thúc đẩy hợp tác khai thác tài nguyên biển, mà trọng tâm là dầu khí, cụ thể hóa phương châm “Gác tranh chấp cùng khai thác”; ngăn cản quốc tế hóa vấn đề biển Đông và sự can thiệp của các nước lớn, nhất là Mỹ, Nhật vào vấn đề Biển Đông. - Về kinh tế + Mở rộng không gian phát triển, thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng, thu hút đầu tư, du lịch. giành vị trí có lợi nhất trong tiến trình liên kết kinh tế khu vực và tiểu vùng. + Cụ thể hóa và tận dụng tối đa lợi ích hợp tác toàn diện Trung Quốc - ASEAN trong khung khổ Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA).
Thúc đẩy hợp tác mang tính đa cấp, đáp ứng nhu cầu hợp tác của khu vực; tạo điều kiện để phát triển hạ tầng xuyên Á: đường biển trên Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển từ Hoa Nam xuống Singapore. Sáng kiến này phù hợp với Chiến lược quốc gia phát triển hướng Nam của Trung Quốc. Trung Quốc coi Đông Nam Á và Nam Á là khu vực trọng điểm thúc đẩy chính sách ngoại giao "láng giềng hoà mục, láng giềng cùng giàu" và khu vực ổn định của Trung Quốc. Tương thích với Chiến lược phát 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển hướng Nam, thúc đẩy hợp tác kinh tế Hoa Nam với Đông Nam Á.
Sáng kiến này do Quảng Tây đề xướng, nhưng vùng Tây Nam và Vịnh Bắc Bộ cũng là khu vực phát triển để hỗ trợ, tăng cường hợp tác kinh tế mậu dịch giữa khu vực miền Trung, miền Tây Trung Quốc với các nước ASEAN. Sáng kiến Một trục hai cánh nhằm khai thác vai trò của Quảng Tây trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Quảng Tây sẽ nối Trung Quốc với Đông Nam Á cả trên bộ và trên biển, cả mạng đường sắt hiện đại, đường cao tốc nối với mạng đường xuyên Á., được coi là cầu nối quan trọng nối liền tiểu vùng Mê Kông mở rộng với Tam giác phát triển Chu Giang. Việc hình thành “một trục hai cánh” sẽ đưa hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ kéo dài từ Nam Ninh qua Việt Nam, Lào, Campuchia đến Thái Lan, Malaysia, Singapore và bao trùm, lan tỏa cả tới Indonesia, Philippines, Brunei và Myanmar.
Trung Quốc cho rằng, không gian của Hành lang kinh tế qua các thành phố lớn Nam Ninh, Hà Nội, Viêng Chăn, Phnompenh, Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore sẽ bổ sung tài nguyên, tăng cường sức sản xuất xuyên khu vực và phân công hợp tác, liên kết phát triển. Các điểm tăng trưởng đầu mối dọc hành lang kinh tế từ Nam Ninh tới Singapore sẽ điều chỉnh nguồn kinh tế của toàn tuyến, hình thành dải tăng trưởng cao ven bờ Tây Thái Bình Dương. Một trong những thế mạnh của vùng này là khả năng tạo lập con đường từ Tây Nam ra biển, mà theo đánh giá của Trung Quốc thì khu vực Vịnh Bắc Bộ thuộc Quảng Tây với chiều dài đường biển gần 700 km có thể mở 21 bến cảng với công suất bốc dỡ hàng trăm triệu tấn hàng hoá, trong đó có 5 cảng lớn là Bắc Hải, Phòng Thành, Khâm Châu, Thiết Sơn và Trân Châu. Trung Quốc dự tính khi xây dựng xong tuyến đường sắt nối các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên với các cảng thuộc ven biển Quảng Tây, thì cự ly vận chuyển hàng hóa qua con đường này tới các cảng của Đông Nam Á, Châu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phi, Châu Âu.
có thể tiết kiệm được từ 1/4 đến 1/3 chi phí so với trước đây.