phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ HÔN NHÂN CÔNG GIÁO VÀ GIÁO XỨ BÌNH HẢI 1. Tổng quan về hôn nhân Công giáo 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm hôn nhân Theo cách hiểu thông thường và phổ biến, hôn nhân là hình thức “sống chung” giữa một người nam và một người nữ mang tính bền lâu qua việc trao hiến thân xác cho nhau. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ. Điều 3 trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”.
Tuy nhiên, khái niệm này không phải là một tiêu chí được áp dụng cho mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Ở một số nước, nhất là các nước Hồi giáo, vẫn thừa nhận rằng hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ., nhưng đồng thời còn cho phép một người đàn ông thực hiện sự kết hợp đó với nhiều người đàn bà cùng một lúc. Đó là chế độ hôn nhân đa thê. Chế độ đa thê cũng có thời kỳ được thừa nhận ở phương Ðông (Việt Nam, Trung Quốc,.) nhưng nay đã bị bãi bỏ.
Bên cạnh đó, ở một vài bộ tộc sống theo nề nếp hình thành từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh, chế độ đa phu được thừa nhận: một người đàn bà có thể chung sống với nhiều người đàn ông cùng một lúc. Mặt khác, ở một số nước lại xuất hiện xu hướng cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân; ở đó những người cùng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau và tạo thành một gia đình. Các nước Bắc Âu là nơi phát triển mạnh nhất của xu hướng này. Riêng Hà Lan là nước đầu tiên đã thông qua một đạo luật cho phép kết hôn giữa những người có cùng giới tính.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra còn tồn tại một số biến dị của hôn nhân khác như: hôn nhân tạm là việc 2 người chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn; tảo hôn là việc người chưa đủ tuổi nhưng vẫn kết hôn. Thật vậy, đã và đang có đủ loại hình thức phối hợp bền vững giữa một người nữ và nhiều người nam, hay giữa một người nam và nhiều người nữ. Hình thức sống chung giữa một người nam và một người nữ được coi là một cuộc thay đổi lớn lao về khái niệm hôn nhân trong phần lớn các nền văn hóa trên thế giới mà ngày nay chúng ta gọi là đơn hôn. Hôn nhân một vợ - một chồng là loại hình hôn nhân cơ bản nhất, được pháp luật công nhận ở hầu hết quốc gia, trong khi các biến dị khác của hôn nhân thì chỉ được chấp nhận ở một số quốc gia trong một số giai đoạn lịch sử.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013), điều 36 quy định: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Theo nguyên tắc này, vợ - chồng tại Việt Nam bình đẳng với nhau trước pháp luật. Đồng thời, nguyên tắc một vợ - một chồng có nghĩa rằng các dạng thức hôn nhân khác như đa thê (nhiều vợ - một chồng) hoặc hôn nhân đồng tính (không có vợ hoặc không có chồng) là vi hiến và pháp luật Việt Nam không công nhận. Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định, một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam là: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” (Điều 2).
Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận” [32, tr. Hôn nhân là một định chế được xã hội loài người công nhận và chấp nhận, được xã hội bảo vệ và chuẩn nhận bằng vô số những quy ước, phong tục, và điều luật thích ứng với những trường hợp khác nhau. Vì thế, hôn nhân 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không chỉ ảnh hưởng đến đương sự mà còn liên quan đến cả xã hội; do đó, việc nam nữ kết hợp bền chắc trong hôn nhân không thể là chuyện thuần túy riêng tư, nhưng là một khế ước cần phải được xã hội nơi mình sinh sống công nhận. Khế ước hôn nhân có thể được biểu tỏ một cách khác nhau tùy theo phong tục, văn hóa của từng thời đại và từng dân tộc.
Tựu trung lại, ý nghĩa của khế ước hôn nhân là biểu tỏ sự ưng thuận của người nam và người nữ muốn kết nối với nhau trong đời sống chung thành vợ chồng, kiến tạo mái ấm gia đình, hai người biểu tỏ cho nhau một tình yêu hiến dâng trong tâm hồn lẫn thể xác. Vì mang đặc tính xã hội, cho nên, đối với tất cả các nền văn hóa nhân loại, hôn nhân luôn được hình thành từ một khế ước được biểu hiện qua một chuỗi hành vi mang tính biểu tượng mà ý nghĩa của nó được làm sáng tỏ qua tín ngưỡng hay tôn giáo. Trong nền văn hóa cổ xưa, các phong tục về hôn nhân thường được tôn kính và coi như thánh thiêng, do đó, theo nghĩa rộng cũng có tính tôn giáo. Khái niệm hôn nhân Công giáo Hôn nhân không phải là “sản phẩm” của riêng Kitô giáo mà là di sản của toàn thể nhân loại.
Giáo hội Công giáo đã khẳng định: Hôn nhân nằm ngay trong bản tính tự nhiên của con người (GLHTCG số 1603) [15, tr. Khái niệm hôn nhân Công giáo có thể được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, hôn nhân Công giáo là hôn nhân của người Công giáo. Trong trường hợp này, đương sự trong cuộc hôn nhân có thể cả hai đều là người Công giáo hoặc một người là người Công giáo còn người kia thì không. Người Công giáo là người đã được rửa tội theo nghi thức Công giáo.
Có nhiều cách để một người được rửa tội và trở thành tín đồ Công giáo. Thông thường, người Công giáo trở thành tín đồ như là sự kế thừa truyền thống từ cha ông thông qua nghi lễ rửa tội khi còn là trẻ sơ sinh. Đối với những người Công giáo “gốc” này, họ được truyền dạy giáo lý Công giáo ngay từ nhỏ và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hành các nghi lễ tôn giáo theo quy định của Giáo hội và sự đôn đốc của các bậc phụ huynh. Người ta có thể trở thành người Công giáo khi đã trưởng thành.
Có nhiều động cơ để một người trưởng thành xin gia nhập đạo Công giáo: Trường hợp thứ nhất, nhiều người trở lại đạo để được lấy vợ lấy chồng là người Công giáo một cách thuận lợi nhất. Trường hợp thứ hai, người ta trở lại đạo thuần túy vì sự thôi thúc của niềm tin, tức theo đạo để được “ơn cứu độ”; trong số đó có rất nhiều người khi hấp hối muốn được rửa tội và lãnh nhận các bí tích Công giáo để được ơn tha tội và được Chúa đưa lên Thiên Đàng. Trường hợp thứ ba, có những người trở lại đạo để được thỏa mãn những lợi ích thiết thực trong cuộc sống hàng ngày của họ, nói cách khác, họ gia nhập đạo vì được cho cơm, áo, gạo, muối,… Trường hợp này thường xảy ra đối với các tín đồ dân tộc ít người trên các vùng cao nơi mà kinh tế còn nhiều khó khăn như Tây Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên. Trong các trường hợp nêu trên, theo thống kê của Giáo hội Công giáo Việt Nam, đa số những người đã trưởng thành xin trở lại đạo để được kết hôn với người Công giáo.
Nghĩa thứ hai, hôn nhân Công giáo tức là giáo lý, giáo luật, những nghi lễ, thủ tục,… của Giáo hội Công giáo về vấn đề hôn nhân. Trong Giáo lý Công giáo, hôn nhân là một đề tài lớn, một vấn đề rất quan trọng. Từ trang đầu tới trang cuối, Kinh Thánh vừa đề cập tới hôn nhân và con người vừa đề cập tới mầu nhiệm tình yêu và hạnh phúc của loài người. Những trang đầu Kinh Thánh đã tường thuật về việc Thiên Chúa sáng tạo con người: Ban đầu Thiên Chúa đã sáng tạo loài người không gồm hai người nam hoặc hai người nữ, mà gồm một người nam và một người nữ để họ chung sống với nhau mà cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo liên tục của Ngài [13, tr.
Như thế, hôn nhân đã nằm ngay trong ý định sáng tạo nguyên sơ của Thiên Chúa. Hơn nữa, ngay trong trật tự sáng tạo, Thiên Chúa đã sáng tạo người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài; mà Ngài là tình yêu, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho nên, loài người được sáng tạo theo mẫu mực của tình yêu. Ngài đã chúc lành cho họ và cầu mong họ sinh sản thêm nhiều con cái, để tiếp tục cộng tác trực tiếp trong việc sáng tạo mà Ngài đã khởi đầu (St 1, 28) [13, tr. Chính Thiên Chúa đã kết luận: “Ðó là việc rất tốt đẹp” (St 1, 31) [13, tr.
Còn đối với Chúa Giêsu, ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Ngài đã có mặt trong một tiệc cưới tại Cana. Ở đó, Ngài đã làm dấu lạ đầu tiên biến nước thành rượu để giúp hai họ tiếp tục cuộc vui (Ga 2, 1-11) [13, tr. Giáo hội Công giáo coi sự kiện này như là một chứng thực của Chúa Kitô đối với giá trị hôn nhân, đồng thời cũng tiên báo sự hiện diện thường xuyên của Ngài trong đời sống hôn nhân. Giáo huấn này được hình thành dần dần trong những thế kỷ XI - XIII, rồi được phán quyết bởi nhiều Công đồng và tái khẳng định qua nhiều thời đại Giáo hoàng khác nhau.
Giáo hội Công giáo xác định hôn nhân là một “bí tích”: Bí tích Hôn phối. Bí tích được hiểu là dấu chỉ thánh thiêng được Chúa Giêsu thiết lập và trao lại cho Giáo hội Công giáo để ban ơn lành và nâng đỡ đời sống tâm linh của tín đồ. Giáo hội Công giáo có 7 bí tích, trong đó bí tích thứ 7 là bí tích Hôn phối. Bí tích Hôn phối là sự tác hợp vợ chồng giữa một người nam và một người nữ thông qua giáo quyền, và vì vậy nó có tính chất thánh thiêng.