PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Giữa hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều nét tương đồng về văn hóa, có truyền thống lịch sử lâu đời với những đặc điểm ưu tú, đó là tinh thần yêu nước, trí thông minh và cần cù lao động. Trong quá khứ, cả hai quốc gia đều bị các cuộc chiến tranh tàn phá, là những thuộc địa có trình độ thấp, nghèo nàn, lạc hậu …cả hai nước đều chịu ảnh hưởng của nho giáo như lòng trung thành, tính hiếu học, tính tiết kiệm và tinh thần dân tộc cao… Những đặc trưng này là nhân tố quan trọng trong việc giao lưu về văn hoá, kinh tế, chính trị trong những năm gần đây giữa hai quốc gia. Từ năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ. Từ đó đến nay, mối quan hệ giữa hai nước ngày một phát triển.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh tế, văn hóa–giáo dục và đến năm 2012, Việt Nam và Hàn Quốc kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều thành quả quan trọng từ việc hợp tác giữa hai quốc gia trong thời gian qua mang lại. Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh Oh Jae-hack cho biết, trong năm 2012, tính đến hết tháng 10, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 17,2 tỉ USD. Quy mô đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam cũng tăng gấp 260 lần, từ 90 triệu USD (năm 1992) lên hơn 24 tỉ USD vào năm 2011, trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam [37].
Ngày 26/2/2013, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã có buổi hội kiến với Tổng thống Hàn Quốc Park Geun- hye và hai bên nhất trí sẽ nâng kim ngạch thương mại giữa hai nước lên 30 tỉ USD. Chính sự mối quan hệ tốt đẹp gữa hai nước, sự đầu tư ngày càng nhiều và có hiệu quả vào nền kinh tế Việt Nam thông qua các doanh nghiệp có quy mô và lĩnh vực khác nhau mà số người Hàn Quốc qua Việt Nam làm việc, học tập và nghiên cứu ngày càng tăng. 1 Để phục vụ cho quá trình giao lưu, hợp tác giữa hai nước, có ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam qua Hàn Quốc du học các ngành kinh tế, xã hội và nhân văn, quản trị… Và ngược lại, trong những năm gần đây, lượng sinh viên người Hàn Quốc đến Việt Nam, đến TP. Hồ Chí Minh học tập ngày càng đông đảo, có xu hướng tăng.
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG–HCM) đào tạo sinh viên người nước ngoài từ năm 2000 chủ yếu trong chương trình đào tạo của khoa Việt Nam học (VNH). Số sinh viên đến trường học tập chủ yếu đến từ các nước như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản…trong đó, lượng sinh viên Hàn Quốc (SVHQ) đông đảo nhất. Các sinh viên có quốc tịch Hàn Quốc học tại khoa VNH chủ yếu học về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, một số trường đại học khác trên địa bàn thành phố như: trường ĐH Sư phạm, ĐH Ngoại ngữ Tin học có chương trình đào tạo tiếng Việt cho sinh viên người nước ngoài nhưng với quy mô nhỏ hơn.
Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne - RMIT cũng dạy tiếng Việt song ngành chuyên môn cho sinh viên Hàn Quốc vì đây là một viện đào tạo quốc tế, nhưng học viên là người Hàn Quốc ở đây chỉ chiếm thiểu số. Sự thay đổi về không gian sống với nhiều điểm khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, điều kiện sinh hoạt, cách thức tổ chức xã hội, chương trình và phương pháp giảng dạy trong giáo dục…cùng nhiều yếu tố khác đã gây ra một số khó khăn cho người nước ngoài khi đến Việt Nam. Điều này đặt ra những thách thức nhất định trong việc ban hành các giải pháp hỗ trợ đối tượng này để họ hội nhập tốt với điều kiện ở Việt Nam. Việc nghiên cứu về những khó khăn của sinh viên người Hàn Quốc với tư cách là thành phần có tỷ lệ cao nhất trong số sinh viên nước ngoài đến thành phố học tập trong quá trình hội nhập vào môi trường sống, môi trường giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp hỗ trợ người nước ngoài học tập tại đây.
Đồng thời, thông qua các kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đề xuất 2 một số giải pháp để các cơ quan quản lý nhằm hỗ trợ tốt cho hơn sinh viên người nước ngoài học tập ở Việt Nam trong tương lai. Đó chính là những lý do chính mà tác giả quyết định thực thực hiện đề tài nghiên cứu “Sự hội nhập của sinh viên Hàn Quốc với điều kiện sống, học tập ở thành phố Hồ Chí Minh” nghiên cứu trường hợp sinh SVHQ đang học hệ chính quy tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG–HCM. Ý nghĩa của đề tài Với kết quả nghiên cứu, tác giả mong muốn sẽ góp phần vào việc tìm hiểu TP. , đưa ra một số giải pháp hỗ trợ người nước ngoài đang học tập tại Trườ – TP.
Hồ Chí Minh dưới góc độ công tác quả giáo dục. Nghiên cứu vấn đề này, về sự hội nhập của SVHQ đang học tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM; xác định cụ thể những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hội nhập ; góp ý các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn quá trình đào tạo sinh viên nước ngoài tại Trường, đặc biệt là trong định hướng chiến lược hướng tới một Trường đại học có những bước đột phá về quản trị đại học, đào tạo, nghiên cứu khoa học để trở thành cơ sở hàng đầu về đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng của Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; cung cấp các dịch vụ khoa học và giáo dục chất lượng cao cho nền kinh tế quốc dân; khẳng định vị thế của một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học quan trọng ở Đông Nam Á. Ngoài ra, việc tiến hành nghiên cứu sẽ giúp tác giả tìm hiểu thực tế, nâng cao kỹ năng nghiên cứu xã hội họ hiểu biết. Tổng quan nghiên cứu Có nhiều nghiên cứu, bài viết về mối quan hệ giữa hai quốc gia, về đặc trưng 3 của Hàn Quốc .Cộng đồng người Hàn TP.HCM trước năm 1992 Người Hàn Quốc bắt đầu định cư tại Việt Nam khoảng từ thế chiến thứ hai, hầu hết là những người theo chân quân đội Nhật.
Họ chủ yếu là thương nhân, quân nhân, viên chức dân sự phục vụ trong quân đội và “Đội quân tinh thần phụ nữ” (những phụ nữ Hàn Quốc bị buộc làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật). Tuy nhiên cũng có những người đi làm ở các công ty hoặc làm chủ công ty qui mô lớn. Năm 1945, số người Hàn ở Sài Gòn khoảng 2.000 người, ở Hà Nội có khoảng 100 người. Sau năm 1945, cùng sự rút lui của quân đội Nhật, phần đông người Hàn Quốc cũng rời Việt Nam, quay về nước hoặc di cư sang nước thứ ba sau khi Nam Bắc phân chia để tránh sự phân biệt của xã hội Việt Nam, còn 100 người Hàn đang sống ở miền Bắc thì sau khi Nam Bắc phân chia đã di chuyển xuống phía Nam.
Đến năm 1950, số người Hàn còn lại khoảng 50 người. Vào năm 1964 khi lính Hàn Quốc xuất hiện tại Việt Nam thì chỉ có khoảng 20-30 người đang sinh sống và từ năm này thì số người Hàn Quốc qua Việt Nam tăng trở lại, năm 1965 tại Sài Gòn có khoảng 164 người [1]. Đương nhiên không nghi ngờ gì về việc khẳng định những người này là thế hệ người Hàn thứ nhất định cư tại TP. Tuy nhiên khó mà gọi họ là thế hệ đầu tiên có tính liên tục kết nối với xã hội người Hàn tại TP.HCM hiện tại.
Bởi vì họ hoặc đã bị đồng hóa với bản địa hoặc đã bỏ sang nước ngoài. Họ có tính cách khác với người Hàn Quốc hiện tại đang tái sản xuất theo đặc trưng riêng dưới dạng tổ chức nước ngoài tại bản địa. Thế hệ người Hàn thứ nhất thực tế trong lịch sử xã hội người Hàn TP.HCM đã đến trong chiến tranh Việt Nam, từng đến một vùng Trung Nam Bộ và sinh sống, sau chính sách đổi mới của Việt Nam, họ là những người quay lại TP.HCM 4 và định cư tại đây. Những người này trong xã hội người Hàn TP.HCM được gọi là “nguyên lão”.
Hiện tại có khoảng 100 nguyên lão bao gồm 50 thành viên của Hội nguyên lão được thành lập vào năm 1999 tại TP. Các nguyên lão đã đến Việt Nam cùng với các sĩ quan được phái đi trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến năm 1973. Trong số họ số ít người thuộc các sĩ quan phái đi trong tổng số 320. Những “nguyên lão trẻ” đã hơn 60 tuổi vào thời chiến tranh họ đang ở độ tuổi phục vụ quân ngũ thì đến Việt Nam dưới tên gọi lính chi viện.
Tuy nhiên những “nguyên lão” thực sự trong độ tuổi 70 khi được phái đi ít nhất cũng ở tuổi ba mươi mấy. Đa số họ là những doanh nhân hoặc kỹ sư của các công ty kinh doanh ăn theo thời chiến, liệt kê ra thì có các công ty nhập hàng Mỹ, nhà hàng, cửa hàng bán quà tặng, cửa hàng thực phẩm v. Các nguyên lão không phải là lính phái đi mà là những công nhân viên hoặc doanh nhân, họ đến trong chiến tranh, lập gia đình với phụ nữ Việt Nam và định cư lại. Những lính được sai đi với mức phụ cấp 50 đôla Mỹ một tháng thì không có đủ điều kiện về thời gian lẫn tiền bạc để có thể sống cùng với phụ nữ Việt Nam.
Các nguyên lão có đủ điều kiện để sống cùng với phụ nữ Việt Nam và cho ra thế hệ “con lai Đại Hàn đầu tiên”. Đa số các nguyên lão gắn bó rất chặt chẽ với cuộc sống tại TP. Trong số các nguyên lão đang tái hợp và sống cùng gia đình Việt Nam thì cũng có người xem Việt Nam là tổ quốc của mình [4] Một do nữa khiến các nguyên lão gắn bó với Việt Nam là vì họ không có nhiều sự luyến tiếc với Hàn Quốc. Đa số các nguyên lão đều từng kinh nghiệm việc “đi ra ngoài kiếm tiền, về Hàn Quốc lặp lại cảnh nghèo khó”.
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, những người này đã sang châu Phi, Indonesia, Trung Đông v.v… để kiếm tiền sau khi gặp thất bại ở Hàn Quốc, đối với họ việc đầu tư vào Việt Nam là cơ hội cuối cùng. Các nguyên lão xuất hiện tại TP.HCM bắt đầu từ những năm 80.