CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Theo tìm hiểu của tác giả, có nhiều nghiên cứu, bài viết về tình hình người Lào tại Việt Nam trước và sau giải phóng. Tác giả đã tham khảo 10 nghiên cứu và bài viết được xuất bản trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo, chuyên san được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Xã hội học, Công tác xã hội nói riêng và ngành Khoa học xã hội nói chung. Và 10 văn bản chính sách của Nhà nước có liên quan đến những quyền lợi, phúc lợi và nghĩa vụ của đối tượng sinh viên Lào và cộng đồng người Lào tại Việt Nam; các nghiên cứu phân tích nhiều về những khía cạnh văn hóa, kinh tế, chính trị, đặc điểm nhân khẩu của Lào; về sự hợp tác và những mối liên hệ trong sự hợp tác ngày càng sâu rộng giữa hai quốc gia.
Mặc dù vậy, nhưng lại có rất ít những nghiên cứu và luận văn, báo cáo khoa học có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của tôi. Từ việc tìm hiểu những nguồn tài liệu sẵn có như trên sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đặc biệt là giúp tôi có thể lĩnh hội được các phương pháp, nội dung, cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu đi 19 trước. Những báo cáo khoa học trên đã góp phần lớn giúp cho tác giả có cơ sở để kế thừa và tìm ra hướng đi mới cho nghiên cứu của mình. Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy 6 nghiên cứu thực tiễn.
Trong đó, có 3 nghiên cứu liên quan đến sự hội nhập của sinh viên Lào kèm với cuộc sống xa nhà và những vấn đề bất cập của sinh viên Lào trong môi trường đại học và thấy được những khó khăn và thuận lợi, những thách thức mới đối với sinh viên Lào trong việc hội nhập với môi trường học tập ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Bình Dương nói riêng là nhu cầu cần thiết và cấp bách hiện nay. Các nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam – Lào Giữa Việt Nam và Lào có một mối quan hệ hết sức đặc biệt. Sau Hiệp định Geneve năm 1962 về Lào, ngày 05/9/1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện này có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong khi nhân dân hai nước đang chuẩn bị bước vào một giai đoạn khó khăn và ác liệt nhất của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Kể từ sau ngày lịch sử đó, Việt Nam và Lào đã không ngừng tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ nhau xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ ở Lào. Đồng chí Kaysone Phomvihane đã nhấn mạnh: "Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư"[22]. Biết bao người con ưu tú, những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã ngã xuống trên đất Lào, dòng máu của họ luôn quyện vào những dòng máu đỏ của những người con của nhân dân các dân tộc Lào, thấm sâu vào lòng đất, vì nền độc lập của đất nước Lào. Bên cạnh đó, Việt Nam từng là đất nước chịu nhiều thiệt hại trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và các nước, trong đó có Lào.
Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Việt Nam trở thành một quốc gia năng động, tham gia với tư cách là thành viên, quan sát viên và có quan hệ rộng rãi với nhiều tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia… thể hiện đường lối ngoại giao tích cực, đa phương hóa, đa dạng hóa. 20 Theo Lê Minh Tiến trong nghiên cứu Quan hệ Việt Nam –Lào từ 1945 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020 thì có năm cơ sở căn bản về kinh tế, chính trị, truyền thống làm nền tảng cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào bao gồm: thứ nhất, giữa hai quốc gia có sự tương đồng về lịch sử, nhu cầu, lợi ích, cấu trúc kinh tế; thứ hai, giữa hai quốc gia có mối quan hệ lâu đời, có sự tương đồng về văn hóa, lịch sử: hai nước đều trải qua giai đoạn dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, hai nước đều có những nét văn hóa tương đồng như: coi trọng gia đình, lễ nghĩa, kính trọng người già, người lớn tuổi…; thứ ba, lãnh đạo hai nước đều thống nhất cao và bằng nhiều chính sách khác nhau đã nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược; thứ tư, cộng đồng người Việt Nam ở Lào và người Lào ở Việt Nam đều rất đông đảo; thứ năm, cả hai quốc gia đều cùng hợp tác song phương trên các diễn đàn khu vực và quốc tế như UN, ASEAM, ASEAN +3, ARF, APEC, Việt Nam và Lào đều là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực như: Liên Hợp quốc, Ủy ban kinh tế-xã hội châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP), Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, AIPO, ASEM, GMS, CLV, CLMV, WEC[24]. Tác giả Nguyễn Minh Mẫn, Phạm Thị Kim Anh trong bài nghiên cứu “Quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong những năm đầu thế kỷ XXI – trạng và triển vọng” [30] cho biết quan hệ thương mại giữa hai nước rất khiêm tốn, năm 1993, kim ngạch buôn bán hai chiều giữa 2 nước đạt 23,4 tiệu USD và tăng lên 86 triệu USD vào năm 1989. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, kim ngạch buôn bán giữa hai nước đã tăng lên đáng kẻ, năm 1992 đạt 490 triệu USD và tăng lên nhanh chóng trong những năm sau đó, năm 1995 đạt 1,5 tỷ USD, năm 1996 đạt 1,8 tỷ USD, năm 1997 đạt 1,9 tỷ USD, năm 1999 đạt 1,5 tỷ USD.
Còn tác giả Nguyễn Tiến Lực khi phân tích nguyên nhân dẫn đến “sự phát triển nâng tầm cao mới” của quan hệ Việt- Lào ông cho rằng có 3 nguyên nhân chính gồm: phù hợp vơí lợi ích chiến lược của 2 nước; quyết tâm cao của lãnh đạo và nhân dân hai nước và giữa hai nước có nhiều nét tương đồng về văn hóa, lịch sử[36]. 21 Các hợp tác về văn hóa, giáo dục giữa hai nước đang tiến triển mạnh. Năm 1994, hai nước ký kết Hiệp định Văn hóa tại Hà Nội nhằm chia sẻ các kinh nghiệm quản lý, xúc tiến hợp tác giáo dục và khoa học, hợp tác văn hóa nghệ thuật. Hiện nay, làn sóng văn hóa Lào bao gồm, âm nhạc, ẩm thực, văn hóa du lịch du nhập ngày càng nhiều, nhưng mạnh mẽ nhất vẫn là giáo dục khi có rất nhiều du học sinh từ Lào đến việc nam sinh sống và học tập, du nhập và được đón nhận ở Việt Nam.
Giữa 2 quốc gia đã ký kết các hiệp định như: Hiệp định Hợp tác giáo dục tháng 3 – 2000, Hiệp định Hợp tác giáo dục và đào tạo vào ngày 31 tháng 5 năm 2005 dẫn đến những hiệu quả tích cực: hai bên trao đổi tài liệu thông tin; cử giáo sư, giảng viên Việt Nam qua Lào nghiên cứu; hỗ trợ dạy tiếng, nghề, cấp học bổng…; chính phủ Lào cũng góp phần tạo điều kiện và tài trợ tài trợ nhiều dự án giáo dục[22]. Các nghiên cứu trong lĩnh vực này tập trung phân tích về quá trình hai quốc gia hàn gắn mối quan hệ trong quá khứ, cách thức và vai trò mà người Lào đến Việt Nam, sự hợp tác về văn hóa, giáo dục, sự ảnh hưởng của văn hóa Lào đến đời sống người Việt hiện nay. Từ các nghiên cứu có thể thấy tình hình tích cực trong đầu tư kinh tế, quan hệ nhiều mặt giữa hai quốc gia và triển vọng hợp tác trong tương lai mang lại cho công dân mỗi nước. Và tinh thần các nghiên cứu nêu bật lên là rất khả quan dù rằng còn một số tồn tại cần hợp tác giải quyết.
Những điều kiện hợp tác về mặt giáo dục giữa Việt Nam- Lào Trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước Việt - Lào cũng đã có bề dày lịch sử. Từ buổi ban đầu của thời kỳ cách mạng, hai nước cùng chiến đấu chung trong một chiến hào, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã dạy chữ cho các chiến sỹ cách mạng Lào, giúp cho nhiều người sau này trở thành những cán bộ ưu tú, những người chỉ huy tài năng. Tại vùng giải phóng Lào, nhiều cán bộ giáo dục tình nguyện Việt Nam đã sang giúp bạn phát triển giáo dục, từ bậc tiểu học, phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, đến cao đẳng và đại học[5]. Cùng với việc xây dựng hệ thống giáo dục tại vùng giải phóng Lào, ngay từ năm 1958, Việt Nam đã đón nhận hàng trăm con em các bộ tộc Lào sang học tập tại các 22 trường dân tộc nội trú.
Dù trong khói lửa ác liệt của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã xây dựng một số trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung cấp chuyên nghiệp và các trường đào tạo cán bộ cho Lào. Từ năm 1958 đến 1964, Việt Nam đã đào tạo cho Lào 3.104 lưu học sinh, chủ yếu theo học hệ bổ túc văn hóa. Sau khi tốt nghiệp, một phần lưu học sinh trở về công tác tại vùng giải phóng của Lào, số còn lại được tiếp tục gửi đi học ở các trường sư phạm của Việt Nam để trở thành giáo viên cấp II. Từ năm 1965 đến 1974, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược bước vào thời kỳ ác liệt nhất, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn tiếp tục nuôi dưỡng và đào tạo lưu học sinh Lào với tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”.
Trong thời gian này, Việt Nam đã đào tạo được 4 nghìn học sinh từ các vùng giải phóng Lào sang theo học cấp I, cấp II và cấp III. Trong giai đoạn này, Chính phủ Lào chủ trương giảm số học sinh cấp I, II và tăng cường đào tạo học sinh cấp III, đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp tại Việt Nam. Các chương trình hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giai đoạn này mang tính chất “ngành giúp ngành” và Việt Nam đã đáp ứng mọi yêu cầu của Lào cả về số lượng, trình độ, ngành nghề đào tạo[1].