Hồi Ký Trong Văn Học Việt Nam Giai Đoạn 1975 Đến Nay: Đặc Trưng Thể Loại

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hồi ký trong văn học việt nam giai đoạn 1975 đến nay nhìn từ đặc trưng thể loại, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

182
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề lý luận về ký

1.1.1. Nguồn gốc của ký

1.1.2. Đặc trưng của ký

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHỤC HIỆN KÝ ỨC TRONG HỒI KÝ SAU 1975

2.1. Vai trò của ký ức trong hồi ký

2.1.1. Ký ức là khởi nguồn, chất liệu của văn học nói chung

2.1.2. Ký ức sàng lọc và tạo ra những giới hạn của việc tái hiện sự thật

2.1.3. Sự thôi thúc từ hiện tại - điểm khởi đầu của dòng ký ức

2.1.4. Nhu cầu hồi cố của lớp người cao tuổi

2.1.5. Khát vọng chia sẻ của lớp trẻ qua hồi ký

2.1.6. Sự kết tinh của các biểu tượng nghệ thuật. Những biểu tượng nổi bật

2.1.7. Sự tương hỗ của các biểu tượng

2.1.8. Sự hỗ trợ của trí tưởng tượng trong quá trình hoài niệm

2.1.9. Vai trò của tưởng tượng và vấn đề hư cấu trong hồi ký

2.1.10. Một số hình thức của tưởng tượng trong hồi ký

3. CHƯƠNG 3: DIỄN NGÔN VỀ SỰ THẬT TRONG HỒI KÝ SAU 1975

3.1. Tiếp cận hồi ký từ lý thuyết diễn ngôn

3.1.1. Khái quát về lý thuyết diễn ngôn

3.1.2. Hồi ký dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng xã hội sau năm 1975

3.1.3. Sự hình thành và quan hệ qua lại giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong ký nói chung và hồi ký nói riêng

3.1.4. Chủ thể diễn ngôn và cái nhìn tự biện mới mẻ về bản thân

3.1.5. Hình tượng bạn bè nghệ sĩ dưới những góc nhìn khác nhau

3.1.6. Trội của mã sự thật trong hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và các cựu binh cách mạng

3.1.7. Chân dung người anh hùng trong cuộc chiến và giữa đời thường

3.1.8. Hình tượng người lính- người đồng đội trong chiến tranh

3.1.9. Sự thể hiện của các chính trị gia

3.1.10. Sự trợ của mã nghệ thuật cho mã sự thật trong hồi ký của các tầng lớp khác

3.1.11. Hồi ký của các nhà báo. Hồi ký của những người làm nghệ thuật

4. CHƯƠNG 4: SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI CỦA HỒI KÝ SAU 1975

4.1. Chất trữ tình trong hồi ký

4.2. Sự trỗi dậy của cái tôi nội cảm giữa cấu trúc hồi ức

4.3. Sự xuất hiện của thiên nhiên giữa dòng chảy sự kiện

4.4. Chất tiểu thuyết trong hồi ký

4.5. Kết cấu hiện đại

4.6. Nghệ thuật xây dựng nhân vật có độ dư

4.7. Kỹ thuật tự sự tạo tính đa thanh

4.8. Một số biến thể của hồi ký. Hồi ký-tự truyện

4.9. Hồi ký ẩn danh tiểu thuyết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hồi ký trong văn học Việt Nam từ 1975 đến nay

Hồi ký trong văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay đã trở thành một thể loại văn học quan trọng, phản ánh những biến động lịch sử và xã hội. Thể loại này không chỉ ghi lại ký ức cá nhân mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc. Hồi ký đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Sự phong phú của các tác phẩm hồi ký đã tạo nên một bức tranh đa dạng về cuộc sống và con người Việt Nam trong giai đoạn hiện đại.

1.1. Đặc trưng thể loại hồi ký trong văn học Việt Nam

Hồi ký được xem là thể loại văn học mang tính chủ quan, nơi tác giả thể hiện những trải nghiệm, ký ức cá nhân. Đặc trưng này giúp hồi ký trở thành một phương tiện hiệu quả để truyền tải cảm xúc và suy tư của con người về những sự kiện lịch sử. Hồi ký không chỉ đơn thuần là ghi chép mà còn là sự kết hợp giữa thực tế và hư cấu, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

1.2. Sự phát triển của hồi ký sau năm 1975

Sau năm 1975, hồi ký đã có sự bùng nổ về số lượng và chất lượng. Nhiều tác giả không chuyên đã tham gia viết hồi ký, từ các nhà văn, nhà thơ đến những người bình thường. Sự đa dạng này không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn thể hiện những góc nhìn khác nhau về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

II. Những thách thức trong việc viết hồi ký sau 1975

Việc viết hồi ký sau năm 1975 không chỉ đơn thuần là ghi lại ký ức mà còn đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như sự thật và hư cấu, tính chủ quan và khách quan trong hồi ký đã tạo ra những tranh luận sôi nổi trong giới văn học. Hơn nữa, việc xác định ranh giới giữa hồi ký và các thể loại khác như tự truyện hay bút ký cũng là một thách thức lớn.

2.1. Sự thật và hư cấu trong hồi ký

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc viết hồi ký là làm thế nào để cân bằng giữa sự thật và hư cấu. Nhiều tác giả đã gặp khó khăn trong việc quyết định những gì nên được ghi lại và những gì có thể được hư cấu để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn.

2.2. Tính chủ quan và khách quan trong hồi ký

Hồi ký thường mang tính chủ quan cao, điều này có thể dẫn đến những tranh cãi về tính xác thực của các sự kiện được ghi lại. Tác giả cần phải nhận thức rõ ràng về vai trò của mình trong việc tái hiện lịch sử và những ảnh hưởng của quan điểm cá nhân đến nội dung tác phẩm.

III. Phương pháp viết hồi ký hiệu quả trong văn học hiện đại

Để viết hồi ký hiệu quả, tác giả cần áp dụng những phương pháp nhất định nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và lịch sử. Việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh và cấu trúc hợp lý sẽ giúp hồi ký trở nên hấp dẫn hơn với độc giả.

3.1. Sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh trong hồi ký

Ngôn ngữ và hình ảnh là hai yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn cho hồi ký. Tác giả cần biết cách sử dụng từ ngữ một cách tinh tế để truyền tải cảm xúc và tạo ra những hình ảnh sống động trong tâm trí độc giả.

3.2. Cấu trúc hồi ký hợp lý

Cấu trúc của hồi ký cũng rất quan trọng. Một hồi ký tốt cần có sự sắp xếp hợp lý giữa các phần, từ phần mở đầu, thân bài đến kết luận. Điều này giúp độc giả dễ dàng theo dõi và cảm nhận được mạch truyện cũng như ý nghĩa của tác phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hồi ký trong giáo dục và nghiên cứu

Hồi ký không chỉ có giá trị văn học mà còn có ứng dụng thực tiễn trong giáo dục và nghiên cứu. Các tác phẩm hồi ký có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam.

4.1. Hồi ký như tài liệu giáo dục

Hồi ký có thể được sử dụng trong các chương trình giảng dạy để giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Những câu chuyện cá nhân trong hồi ký sẽ giúp họ cảm nhận sâu sắc hơn về những sự kiện lịch sử.

4.2. Nghiên cứu văn học và lịch sử qua hồi ký

Hồi ký cũng là nguồn tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu văn học và lịch sử. Những tác phẩm này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm tư, tình cảm và quan điểm của con người trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.

V. Kết luận và tương lai của hồi ký trong văn học Việt Nam

Hồi ký trong văn học Việt Nam từ 1975 đến nay đã chứng minh được giá trị và vai trò của mình trong việc ghi lại ký ức và phản ánh cuộc sống. Tương lai của hồi ký hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển với sự tham gia của nhiều tác giả mới và những góc nhìn đa dạng hơn.

5.1. Triển vọng phát triển của hồi ký

Với sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội, hồi ký có thể tiếp cận được nhiều độc giả hơn. Những tác phẩm hồi ký sẽ không chỉ dừng lại ở sách in mà còn có thể được chia sẻ qua các nền tảng trực tuyến.

5.2. Hồi ký và sự giao thoa với các thể loại khác

Hồi ký sẽ tiếp tục giao thoa với các thể loại khác như tự truyện, bút ký, tạo nên những tác phẩm đa dạng và phong phú hơn. Điều này sẽ làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam trong tương lai.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ hồi ký trong văn học việt nam giai đoạn 1975 đến nay nhìn từ đặc trưng thể loại

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nhìn nhận ký như một loại hình diễn ngôn, giải quyết một loạt vấn đề của thể loại dưới góc nhìn mới. Tất nhiên, chúng tôi không đồng ý với tác giả khi coi ký là một “loại hình” (đứng từ góc độ lý luận, ký chỉ nên được xem xét với tư cách một thể loại, đồng đẳng với các thể loại khác như thơ, truyện, tiểu thuyết,…) nhưng chúng tôi khá tán thành với cách tác giả bóc tách đặc trưng của ký. Trên quan điểm của lý thuyết diễn ngôn, người viết đã phân tích giá trị của các tác phẩm ký qua các “mã” từ mã thể loại đến mã tư tưởng hệ. Hướng nghiên cứu này gợi mở cho chúng tôi thêm một cách tiếp cận mới về đặc trưng thể loại của ký.

Có thể nói, đặc trưng của ký không chỉ dừng lại ở đặc điểm viết về người thật việc thật hay có sử dụng hư cấu hay không mà “phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện… thì mới làm nên đặc trưng của ký” [148, 280]. Bản thân tác giả Tô Hoài cũng nhận xét: “Thể truyện đòi hỏi sáng tạo trên cơ sở tổng hợp thực tế. Thể ký cần tổng hợp thực tế rồi sáng tạo thông qua những điều mắt thấy tai nghe. Những đặc điểm có tính chất quy định thể loại ấy không hạn chế sự sáng tạo.

Hạn chế hay không chỉ do tư tưởng, vốn sống và sở trường, tài năng mọi mặt của người viết mà thôi” [63, 22]. Ký, trong bản chất thể loại, đã luôn dung nạp những sự sáng tạo, hư cấu của chủ thể trần thuật ở một giới hạn nhất định. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, chúng tôi cho rằng ký là một thể loại văn học nằm trong loại hình văn xuôi tự sự mang những đặc trưng nổi bật như sau: - Tính chất nổi trội của ký là tính tự sự nhưng bên cạnh đó, tùy thuộc vào đặc trưng của các tiểu loại/ thể tài, ký hoàn toàn có thể dung nạp tính chất trữ tình, chính luận. Những yếu tố này chính là những suy nghĩ, cảm xúc thật của người viết xuất phát từ quá trình tiếp xúc, cảm thụ những sự kiện có thật nên trong ký luôn có sự kết hợp giữa tính khách quan và tính chủ quan.

- Khác với nhân vật trong các tác phẩm truyện hay tiểu thuyết thường là một nhân vật được làm mới hoàn toàn thì nhân vật của ký là do nhà văn tái tạo theo nguyên hình một con người có thật. Trong ký, sự trung thực đến mức tối đa với người thật việc thật là một tính tất yếu, một nguyên tắc. Tuy nhiên, giữa những tư liệu bề bộn của đời sống, người viết ký luôn phải biết chọn lọc các chi tiết sinh động và tiêu biểu nhất để tái tạo thành các hình tượng nghệ thuật điển hình. Nhà văn không đưa hết mọi chi tiết vào tác phẩm nhưng chi tiết nào đã được chọn đưa vào tác phẩm thì phải đảm bảo độ chính xác cao.

- Phương pháp sáng tạo nghệ thuật và khái quát hiện thực của ký không phải là “ghép những hiện tượng thuộc nhiều người, nhiều việc vào một nhân vật, một hoàn cảnh, mà là phương pháp đúc những hiện tượng thuộc riêng một người thật, việc thật thành một nhân vật, một hoàn cảnh trung thực đến mức tối đa với người thật, việc thật nhà văn đã chọn” [115, 564]. Trên cơ sở tôn trọng sự thật đến mức tối đa, không bịa đặt, không bóp méo sự thật, ký có thể sử dụng linh hoạt các phong cách và bút pháp khác nhau. Phân loại ký Đặt ký trong dòng chảy lịch đại, các nhà nghiên cứu nước ta chia ký thành hai giai đoạn: ký cổ điển và ký hiện đại. Sự phân chia này không chỉ dựa vào thời gian xuất hiện mà chủ ý nhấn mạnh đến đặc trưng nổi 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trội của các tiểu loại ký qua các thời kỳ.

Ký cổ điển thiên về ghi chuyện, kể việc, các thủ pháp tạo lập văn bản khá đơn giản và thống nhất. Ký hiện đại là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh và tái hiện cuộc sống bằng những hình vẻ đa dạng và phong phú. Với ký cổ điển, các tác giả Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm trong cuốn Các thể văn chữ Hán Việt Nam chỉ ra “Trước thế kỷ XV, dường như chỉ bắt gặp những đoạn văn ngắn mang dáng dấp của ký trong sử thi và văn bia, văn tự bạt, những tác phẩm ký hoàn chỉnh chỉ thực sự xuất hiện từ thế kỷ XV trở về sau” [3, 104]. Đồng thời, căn cứ theo nội dung và đặc điểm của các bài ký, các nhà nghiên cứu cũng đề xuất phân chia thành 5 tiểu loại chính là truyện ký nhân vật, ký đình đài danh thắng, du ký, ký sự, tạp ký.

Trong khi đó, tác giả Trần Đình Sử cho rằng ký cổ điển chủ yếu bao gồm hai loại là tạp ký và ký sự. Tạp ký là “ghi lại những điều mắt thấy tai nghe”, “loại ghi chép có tính chất lịch sử về sông núi, đền chùa, phương vực, phẩm vật, chuyện lạ…” [147, 328]. Với ký hiện đại, có nhiều cách phân chia được đề xuất. Trong cuốn Lý luận văn học (tập 2) do Trần Đình Sử chủ biên, các tác giả đã phân chia ký thành các thể: phóng sự với đặc trưng nổi bật là ghi chép “những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi”, có màu sắc chính luận; bút ký thể hiện trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, do đó mang màu sắc trữ tình, ký sự ghi chép hoàn chỉnh một sự kiện, phong trào, giai đoạn; hồi ký có đặc trưng là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại những sự việc trong quá khứ.

Tác giả Hà Minh Đức trong công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đề nghị phân chia ký thành 3 nhóm cơ bản dựa vào phương thức phản ánh đặc thù, đó là: ký tự sự, ký trữ tình và ký chính luận. Ký tự sự bao gồm phóng sự, ký sự, du ký, hồi ký… với đặc tính nổi bật nhất là “tính chất mẫn cảm và năng động trong việc phản ánh người thật việc thật, phản ánh sự kiện đang trên dòng vận động” [41, 64]. Ký trữ tình bao gồm hệ thống thể loại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu biểu như nhật ký, bút ký, tùy bút…,“tuy vận dụng nhiều yếu tố trữ tình nhưng cơ sở của những cảm xúc suy nghĩ này vẫn phải dựa vào người thật việc thật trong đời sống” [41, 65]. Ký chính luận gồm các thể loại như bút ký chính luận, tạp văn, tiểu phẩm… “kết hợp tư duy hình tượng và tư duy của hoạt động báo chí chính luận” [41, 65].

Những cách phân loại trên khá hợp lý và tất nhiên mọi sự phân chia đều chỉ là tương đối. Tuy có sự khác biệt đôi chút về cơ sở, tiêu chí phân loại nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tên gọi và đặc trưng của các thể loại thuộc ký. Trên cơ sở những lý thuyết khái quát này, chúng ta có thể vận dụng để phân tích và thẩm định những tác phẩm hồi ký theo đúng định hướng thể loại. Quan niệm về hồi ký 1.

Khái niệm hồi ký Hồi ký là một trong những thể ký tự sự điển hình, vừa mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của thể loại, vừa có những nét khu biệt riêng, không trộn lẫn. Trong tiếng Anh, thể loại này có tên gọi là “memoir” (tiếng Pháp là “mémoire”) và được từ điển Wikipedia định nghĩa như sau: Mỗi tác phẩm hồi ký là tập hợp những ký ức cá nhân về những khoảnh khắc hay sự kiện, cả những điều công khai hoặc mang tính chất riêng tư đã diễn ra trong cuộc sống của đối tượng đó. Hồi ký từng được định nghĩa là một dạng của tiểu sử, lý lịch hoặc tự truyện từ cuối thế kỷ XX nhưng thực chất những thể loại này có sự khác biệt về cấu trúc, thể hiện chủ yếu ở tiêu điểm trần thuật. Tự truyện kể câu chuyện về cuộc đời trong khi đó hồi ký thường kể một câu chuyện rút ra từ đời sống.

Có thể thấy, ban đầu, hồi ký chưa được định dạng như một thể loại độc lập. Hồi ký trên thế giới đã từng được xếp vào dạng tự truyện hoặc tiểu sử, còn ở Việt Nam thì từng được định danh là một biến thể của bút ký như trong bài nghiên cứu sau của Nam Mộc: “Bút ký lại có nhiều thứ: có bút ký phản ánh những người, việc và cảm nghĩ đang diễn ra từng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày theo một thứ tự thời gian (nhật ký), có thứ phản ánh người, việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn (du ký); có thứ bút ký phản ánh những hiện tượng đã qua theo trí nhớ của nhà văn (hồi ký). Ở ta có một loại hồi ký đặc biệt do người trong cuộc hoặc người chứng kiến kể lại cho nhà văn ghi mà có đồng chí gọi là “loại ghi chép” hoặc “truyện ghi” [115, 549]. Trong cuốn “Viết hồi ký” xuất bản năm 1961, nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định: “Theo một số tài liệu giáo khoa thì hồi ký nằm trong thể chung của bút ký, nhằm ghi chép lại những sự kiện đã xảy ra trong đời sống tương đối lâu.

Thể “ký” nằm trong một loại được gọi chung là tản văn có đặc điểm không xây dựng hình tượng văn học bằng hư cấu. Người viết chỉ chọn lọc, cắt xếp lại một số chi tiết của sự việc…” [126, 11]. Sự sắp xếp và định danh như trên có nhiều điểm bất cập bởi giữa bút ký và hồi ký có sự phân biệt khá rõ về đặc trưng thể loại và cách tiếp cận, phản ánh hiện thực. Các nhà nghiên cứu sau này đã đưa ra những định nghĩa phù hợp hơn, trả lại cho hồi ký vị trí xứng đáng trong hệ thống thể loại của ký.

Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hồi ký là những trang ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã lùi vào quá khứ. Viết hồi ký là nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện kể lại về người thật việc thật ngày hôm qua, do chính người kể chứng kiến hoặc tham gia vào sự việc. Viết hồi ký không riêng là công việc của hoạt động văn học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ