mở đầu, đặt cơ sở cho quá trình hình thành, phát triển, tiến dần đến dòng tư tưởng lớn của nhân loại: tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại phương Đông. Ở Ấn Độ: Mầm móng tư tưởng về một chế độ xã hội bình đẳng, bác ái mang màu sắc tôn giáo được xuất hiện trong triết lý Phật giáo. Triết lý Phật giáo Ấn Độ cổ đại đưa ra hệ thống các quan niệm về con đường, về các chân lý để con người ta có thể giải thoát khỏi cuộc sống khổ ải nơi trần gian để có thể về với nơi niết bàn cực lạc.
Trên cơ sở các triết lý đó, Phật giáo khuyên con người hãy làm điều thiện, chống điều ác dù là cam chịu nhẫn nhục bằng cách tu thân tích đức. Mọi thứ trên đời hay cuộc sống đều là sự đau khổ, mỗi nỗi khổ đều có nguyên do, đau khổ có thể được chấm dứt bằng cách tu luyện theo 8 con đường (bát chánh đạo) để chấm dứt đau khổ. Tóm lại, mầm móng tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Ấn Độ được thể hiện ở các điểm: + Có sự tồn tại một xã hội ở thế giới sau khi chết, trong đó mọi người đều sống bình đẳng, nhất mực yêu thương nhau. Để tới được xã hội ấy con người phải tu luyện trong cuộc sống trần gian.
+ Lên án sự áp bức bất công, kêu gọi chống lại sự bất công bằng cách tu nhân tích đức, cam chịu, không dùng vũ lực. + Nguyên nhân, nguồn gốc của cái xấu, cái ác, áp bức bất công là do lòng tham của con người, chứ không phải do cơ sở kinh tế xã hội mà có. Ở Trung Quốc: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai ở Trung Quốc cổ đại được thể hiện ở các nhà tư tưởng lớn như Lão Tử, Phái Nho gia tiêu biểu là Khổng Tử và phái Mặc gia. Theo Lão Tử, Ông chủ trương cai trị xã hội bằng đạo “Vô vi”.
Theo Ông cai trị theo đạo vô vi là không gây phiền hà cho dân, là không dùng chiến tranh và vũ lực, là không bóc lột dân chúng. Vì như Lão Tử quan niệm, đạo tự nhiên, vô vi là chỗ thừa ắt sẽ bù chỗ thiếu, mà bóc lột thì lấy chỗ thiếu bù cho [11] chỗ thừa. Dù còn là quan niệm rất sơ khai nhưng Lão Tử đã thể hiện tư tưởng về một chế độ xã hội không bóc lột3. Đối với phái Nho gia mà người đề xướng là Khổng Tử chúng ta thấy một số quan niệm, phản ánh các ước mơ, khác vọng, ý chí của nhân dân lao động thời Trung Hoa cổ đại về một chế độ xã hội trong đó sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, không có đói rét bệnh tật, mọi người cùng lao động.
Các tư tưởng ấy ẩn chứa bên trong các quan niệm, triết lý của thế giới quan duy tâm đứng trên lập trường của giai cấp thống trị. Nhưng nếu xét trên quan điểm lịch sử thì nó có đóng góp đáng kể vào kho tàng tư tưởng nhân loại nói chung, tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói riêng thời cổ đại. Tóm lại, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa dưới dạng mầm móng xuất hiện từ rất sớm. Các tư tưởng ấy phản ánh các khát vọng, ước mơ của các giai cấp, các tầng lớp lao động bị áp bức.
Tư tưởng xã hội chủ nghĩa Trung Hoa cổ đại là tư tưởng về một thế giới đại đồng mang tính chất cộng sản, cùng với “giang sơn ngàn năm của Chúa trong giáo lý Cơ đốc giáo sơ kỳ phương Tây, cõi niết bàn của đạo Phật ở Ấn Độ là những tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai thời cổ đại. Thời kỳ cổ đại, tư tưởng xã hội chủ nghĩa mới ở dạng “mầm mống” lẫn vào các hình thái ý thức xã hội khác nhau như: Triết học, tôn giáo, văn học…và qua các phong trào phản kháng của quần chúng lao khổ chống áp bức bất công. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời trung đại. Hoàn cảnh lịch sử Thời kỳ trung đại chủ yếu là lịch sử của chế độ phong kiến ở châu Âu (từ thế kỷ V đến XV), trãi qua hai giai đoạn.TS Đỗ Công Tuấn, TS.
Đặng Thị Linh: Giáo trình Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa; NXB Giáo 3 Dục Việt Nam, 2013; tr 38. [12] Giai đoạn thứ nhất (từ thế kỷ V đến thế kỷ X), vai trò thành thị giảm sút, quan hệ kinh tế hàng hóa – tiền tệ không có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đời sống nông thôn và quan hệ phong kiến – gia trưởng chiếm ưu thế. Trong giai đoạn này, mâu thuẫn xã hội cơ bản là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân, thợ thủ công. Tuy nhiên, mức độ của đối kháng xã hội chưa phải gay gắt, sự giác ngộ xã hội của các giai cấp bên dưới cũng chưa phát triển đến trình độ cao.
Cho nên giai đoạn này cũng chưa có đóng góp gì nhiều vào lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn thứ hai (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV), nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ và thương nghiệp dần dần được phục hồi với mức độ khác nhau giữa các nước châu Âu. Thị trường ngày càng mở rộng và thủ công nghiệp ngày càng rơi vào tình trạng bị tư sản thương nghiệp chi phối cả về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chính điều kiện kinh tế - xã hội như vậy đã hình thành những tập đoàn xã hội có thái độ thù địch với chế độ xã hội đương thời và muốn thực hiện một thứ chủ nghĩa cộng sản theo ước mơ đặc thù của họ.
Nội dung tư tưởng Những trào lưu mang khuynh hướng cộng sản thời trung đại rất đa dạng, nhưng đều mang một số đặc điểm chung: Thứ nhất, thế giới quan tôn giáo chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần của xã hội trung đại. Vì vậy, các tập đoàn xã hội bên dưới và những trào lưu cộng sản chủ nghĩa trong giai đoạn này không thể rũ bỏ được màu sắc tôn giáo. Thứ hai, nằm trong hệ thống tổ chức của nền quân chủ chuyên chế, Giáo hội chính thống đã trở thành một kẻ chiếm hữu và bóc lột tập thể mạnh mẽ nhất, nên các tập đoàn có khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa không thể chống phong kiến, chống tư sản mà lại không chống giáo hội trên một số mặt nào đó thuộc về giáo lý hoặc về hệ thống tổ chức. Do đó, chủ nghĩa xã hội sơ khai [13] thời trung đại thường xuất hiện dưới hình thức “dị giáo”.
Những người theo trào lưu mang khuynh hướng cộng sản thời kỳ này đã lấy mẫu mực của công xã Cơ đốc giáo sơ kỳ làm lý tưởng để đối lập với xã hội hiện tồn. Đối với họ, Giáo hội là một bộ phận thống trị bóc lột, một hiểm họa đè nặng lên cuộc sống của các tín đồ. Họ cho rằng, cơ đốc giáo chân chính là ở sự tiếp xúc của chúa và con người, con người thực thi mọi mệnh lệnh của chúa, không cần đến bộ máy của giáo hội. Các dị giáo mang khuynh hướng cộng sản có những quan niệm hoàn toàn không phù hợp với những giáo điều của giáo hội Cơ đốc giáo chính thống.
Một mặt, họ mang xu hướng nhị nguyên luận, quan niệm thế giới là kết quả của cuộc đấu tranh giữa “cái thiện tinh thần và cái ác vật chất”, cho luật lệ của chúa mới là “thánh thiện”, còn các luật lệ trần tục là biểu hiện của “cái ác” mà loài người cần đấu tranh thoát khỏi chúng; mặt khác, họ còn quan niệm “giang sơn ngàn năm của chúa” là một giang sơn không cần có giáo hội, không cần có quyền lực. Ngoài ra nó còn mang tính chất phiếm thần luận khi cho rằng “chúa là tất cả… mọi cái đều thống nhất, vì mọi cái tồn tại đều là chúa và mọi người Cơ đốc giáo đều là một bộ phận của chúa…”. Theo họ, chúa là tự nhiên, luật của chúa và luật của tự nhiên là thống nhất. Thứ ba, chủ nghĩa cộng sản thời trung đại nhìn chung là chủ nghĩa cộng sản tiêu dùng bình quân khổ hạnh trong phạm vi từng công xã nhỏ.
Những tầng lớp xã hội bên dưới đi vào các phong trào xã hội với tâm lý của những người sản xuất nhỏ. Họ chưa có lý tưởng cải tạo đất nước như một tổng thể kinh tế lớn theo kế hoạch thống nhất, lý tưởng của họ chỉ là một công xã nhỏ có khả năng thỏa mãn bình quân những nhu cầu thật cần thiết. Thứ tư, chủ nghĩa xã hội thời trung đại mang tính chất vô chính phủ, quan niệm rằng Nhà nước và các tổ chức của nó đều là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội. Nó chưa có ý thức tạo lập và sử dụng bộ máy nhà nước như một [14] công cụ để tiến hành cải tạo xã hội.
Hơn nữa, người ta còn quan niệm bất cứ một sự gắn bó nào với các cơ quan quyền lực đều là tội lỗi. Cho nên, người ta cho rằng giang sơn của thánh thần trong tương lai hoàn toàn không cần thiết phải có quyền lực trần tục. Thứ năm, chủ nghĩa cộng sản thời trung đại nói chung là một thứ chủ nghĩa cộng sản hòa bình. Nhiều trào lưu chủ trương tiến hành thay đổi đời sống xã hội không phải bằng con đường hành động cách mạng.
Đường lối ấy hoàn toàn phù hợp với truyền thống hòa bình của cơ đốc giáo sơ kỳ. Đặc điểm ấy được quy định bởi chính những tập đoàn xã hội tiêu biểu cho lý tưởng cộng sản còn quá yếu ớt, luôn luôn mang tâm trạng lo sợ bị quá trình phát triển của lịch sử đẩy lùi về đằng sau. Họ không nhận thức được vai trò tích cực của mình trong quá trình phát triển của đời sống xã hội. Họ không thể nhận thức được khả năng ngày càng tăng lên của sức mạnh bản thân như giai cấp vô sản hiện đại sau này.
Nhìn chung, chủ nghĩa cộng sản thời trung đại chỉ có tính chất là phong trào cách mạng khi có những cuộc khủng hoảng xã hội thật sâu sắc và chịu sự tác động của tình thế cách mạng chung, chứ không thể trở thành hiện thực lịch sử trong phạm vi rộng lớn. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII. Hoàn cảnh lịch sử Từ khoảng thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, nhân loại có những bước tiến dài trong đời sống kinh tế - xã hội. Các công trường thủ công có tính chất chuyên môn hoá dần hình thành, thay thế cho tính chất hợp tác sản xuất theo kiểu phường hội.