Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta Viện kiểm sát (tiền thân là Viện công tố) ra đời và phát triển cùng với quá trình thành lập Nhà nước ta. Trải qua nhiều thời kỳ, ở nước ta đã từng tồn tại cả hai mô hình: Viện kiểm sát và Viện công tố. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập năm 1945, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, Chính phủ ban hành nhiều văn bản định hướng và đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp, trong đó có vai trò, vị trí của công tác công tố. Ngày 13-9-1945, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 33c-SL về thành lập Tòa án quân sự ở ba miền Bắc, Trung, Nam.
Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả các người nào có hành vi làm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Sắc lệnh này, Tòa án quân sự của Chính phủ lâm thời có chức năng công tố và có sự phân định về chức năng, nhiệm vụ của các chức danh pháp lý trong các cơ quan tòa án. Điều 5 Sắc lệnh này quy định đứng buộc tội (công tố) là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của ban trinh sát. Sắc lệnh số 33c-SL là văn bản đầu tiên quy định về tổ chức tư pháp của chính quyền dân chủ nhân dân, trong đó có thành phần công tố.
Cuộc cải cách tư pháp năm 1950 đã mang lại một số thay đổi đối với mô hình hoạt động của cơ quan công tố. Theo đó, cơ quan công tố ở cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, đồng thời vai trò của cơ quan công tố trong quá trình giải quyết việc dân sự của Tòa án được tăng cường. Về mặt tổ chức, cho đến năm 1957, cơ quan công tố vẫn nằm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong hệ thống Tòa án, thực hiện nhiệm vụ buộc tội bị cáo trong các phiên tòa hình sự. Đến năm 1958, tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I diễn ra từ ngày 16 đến 29-4, Quốc hội đã nghe và thảo luận đề án của Chính phủ về bộ máy nhà nước, trong đó có quyết nghị về việc thành lập hệ thống cơ quan Tòa án và hệ thống cơ quan Viện công tố, cả hai hệ thống cơ quan này đều có nhiệm vụ, quyền hạn ngang bộ và trực thuộc Hội đồng chính phủ.
Như vậy, hệ thống cơ quan công tố đã được tách khỏi Tòa án, hình thành hệ thống cơ quan công tố độc lập, bao gồm: Viện công tố trung ương; Viện công tố phúc thẩm khu vực; Viện công tố tỉnh; Viện công tố huyện. Bên cạnh chức năng công tố, Viện công tố còn được giao thực hiện chức năng giám sát các hoạt động tư pháp (giám sát hoạt động điều tra, giám sát xét xử và giám sát giam giữ, cải tạo). Từ năm 1959 - 1960, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn vừa tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, vừa tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng đúng đắn quan điểm của Lê-nin trong tác phẩm “Bàn về song trùng trực thuộc và pháp chế” để thành lập cơ quan Viện kiểm sát nhân dân - một trong những cơ quan mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước là tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và căn cứ vào những quy định của Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân được quy định là một cơ quan nhà nước độc lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Căn cứ vào Hiến pháp năm 1959, ngày 15-7-1960, Quốc hội khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong kỳ họp thứ I đã 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (được Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bằng Lệnh số 20/LCT ngày 26-7-1960) bao gồm 6 chương, 25 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng, nhiệm vụ là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và của công dân; Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan công an và của các cơ quan điều tra khác; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam; Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi. Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 cho đến nay, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiếp nối là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục ban hành các đạo luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Cụ thể là: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội khóa VIII thông qua tại Kỳ họp thứ nhất; do Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường Chinh công bố ngày 13-7-1981; Luật sửa đổi và bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội khóa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com VIII thông qua tại Kỳ họp thứ 4 do Lệnh số 11/HĐNN của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Chí Công công bố ngày 04-01-1989; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội khóa IX thông qua tại Kỳ họp thứ nhất do Lệnh số 03/LCT của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh công bố ngày 10-10-1992. Các đạo luật này về cơ bản vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.
Trên cơ sở của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 (được Quốc hội khóa X thông qua tại Kỳ họp thứ 11 do Lệnh số 07/2002/LCNT của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương công bố ngày 12-4-2002) đã thu hẹp phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Viện kiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa mà tập trung thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Lý do của việc điều chỉnh này là để Viện kiểm sát tập trung thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp - là những nhiệm vụ không thể giao cho cơ quan khác thực hiện và là hai lĩnh vực rất bức xúc. Không giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm sát cũng là để khắc phục những trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta.
Như vậy, kể từ năm 2002 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Về mặt tổ chức hệ thống viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Viện kiểm sát quân sự các cấp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của viện kiểm sát nhân dân 1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Theo quy định tại Điều 137 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội khóa X, thì chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.” [15] Như vậy, theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Thực hành quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.