phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, kết cấu của báo cáo bao gồm những nội dung sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập các trung gian tài chính Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập các trung gian tài chính tại Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập các trung gian tài chính tại Việt Nam 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 1. Khái quát về trung gian tài chính 1.1 Khái niệm về trung gian tài chính Các tổ chức trung gian tài chính là các tổ chức chuyên nghiệp cung ứng các dịch vụ tài chính bằng cách huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dƣới nhiều hình thức khác nhau rồi dùng các nguồn vốn này để đầu tƣ nhằm mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Đặc trƣng của các trung gian tài chính đó là họ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, là những tổ chức có tính quy mô lớn và tính chuyên môn hóa cao.
Theo giáo trình Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trƣờng tài chính (2011) [9, tr 77- 78] Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ thuật, Frederic S.Mishkin, trung gian tài chính là tổ chức tài chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính của nó là các tài sản tài chính. Điều này khác với các doanh nghiệp thông thƣờng với các tài sản tài chính là các tài sản thực nhƣ nhà cửa, trang thiết bị, nguyên vật liệu. Các tổ chức tài chính cho các khách hàng vay hoặc mua các chứng khoán trên thị trƣờng đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, từ việc cung cấp các phƣơng tiện thanh toán, bảo quản tài sản, tƣ vấn, môi giới đến các dịch vụ bảo hiểm… cho các nhà đầu tƣ. Trung gian tài chính nắm giữ các giấy nhận nợ đƣợc phát hành bởi những ngƣời đi vay (chứng khoán sơ cấp) đồng thời bán những giấy nhận nợ của chính nó (Chứng khoán thứ cấp) cho những ngƣời tiết kiệm.
Nói một cách khác, trung gian tài chính là cầu nối giữa những ngƣời cần vốn và những ngƣời có vốn. Các tổ chức này tích tụ, tập trung vốn từ những ngƣời có vốn và phân phối vốn đến những ngƣời cần vốn. Phân loại trung gian tài chính Có nhiều cách phân loại trung gian tài chính. Mishkin, giáo trình Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trƣờng tài chính, các trung gian tài chính có thể 8 đƣợc chia thành 3 nhóm chính: Nhóm các tổ chức nhận tiền gửi, nhóm các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng và nhóm những trung gian đầu tƣ - Các tổ chức nhận tiền gửi: bao gồm các ngân hàng thƣơng mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tƣơng trợ và các liên hiệp tín dụng.
Các trung gian tài chính này nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức để cho vay. Do tỉ trọng bộ phận tiền gửi thƣờng chiếm tỉ trọng cao trong nguồn vốn nên để đảm bảo khả năng thanh toán, các tổ chức này thƣờng đầu tƣ vào các tài sản có tính thanh khoản cao nhƣ: Tín phiếu, Trái phiếu Chính phủ. Với chức năng tạo tiền, hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi có tác động lớn tới lƣợng tiền cung ứng. Đây là loại hình trung gian tài chính có ảnh hƣởng quan trọng trong thị trƣờng tài chính, vì vậy để đảm bảo an toàn cho toàn thị trƣờng, các tổ chức này luôn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ các cơ quan quản lí Nhà nƣớc - Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm cháy và tai nạn, các quỹ trợ cấp tƣ nhân, các quỹ hƣu trí.
Đây là các trung gian tài chính mà nhiệm vụ chủ yếu và thƣờng xuyên là thu nhận vốn một cách định kì trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm nhằm chia sẽ rủi ro giữa những ngƣời tham gia bảo hiểm dựa trên quy luật số lớn. Các tổ chức này có thể lƣợng hóa đƣợc các khoản chi trả cho việc hạn chế, phòng ngừa, khắc phục những tổn thất do các rủi ro gây ra, và do đó, có thể xác định lƣợng tiền đầu tƣ và các tài sản kém lỏng hơn trên thị trƣờng chứng khoán nhƣ Trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu. - Các tổ chức đầu tƣ: bao gồm các công ty tài chính, các quỹ, các công ty chứng khoán. Các công ty tài chính nhận vốn bằng cách bán các cổ phiếu và trái phiếu.
Các tổ chức này có thể cho vay tiêu dùng thông qua cho vay mua trả góp các tài sản nhƣ nhà cửa, oto, xe máy. Trong khi đó, các quỹ đầu tƣ huy động vốn bằng cách bán các chứng chỉ quỹ đầu tƣ sau đó đầu tƣ vào các danh mục chứng khoán có mức độ rủi ro phù hợp. Đối với các công ty chứng khoán, họ cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính, bao gồm dịch vụ môi giới, tƣ vấn, và quản lí danh mục đầu tƣ, thực hiện giao dịch mua bán các cổ phiếu và trái phiếu và các công cụ của thị trƣờng tiền tệ. Các hoạt động này đem về cho công ty chứng khoán 9 một phần thu nhập quan trọng dƣới dạng phí và các chênh lệch giá chứng khoán.
Bên cạnh đó, các công ty này còn hoạt động dƣới dạng các trung gian tài chính khi thực hiện các hoạt động cho vay với mục đích tăng thu nhập. Việc phân loại các loại hình trung gian tài chính trên đây chỉ có ý nghĩa tƣơng đối. Bởi lẽ, các trung gian tài chính đã và đang phát triển theo xu hƣớng đa năng, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng. Sự phát triển đa dạng của các trung gian tài chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tƣ, song hoạt động của các trung gian tài chính cũng cần đƣợc quản lí chặt chẽ để tăng tính hiệu quả 1.
Tổng quan về mua bán và sáp nhập các trung gian tài chính 1. Khái niệm mua bán sáp nhập doanh nghiệp Sáp nhập và mua bán doanh nghiệp hay Mergers and Acquisitions thƣờng đƣợc viết tắt là M&A tức là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó Trong đó, sáp nhập đƣợc hiểu là việc kết hợp giữa hai hay nhiều công ty và cho ra đời một pháp nhân mới. Ngƣợc lại, mua bán đƣợc hiểu là việc một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và không làm ra đời một pháp nhân mới Nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt đƣợc. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc tạo ra giá trị mới cho cổ đông.
Hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị, điều hành của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ thay đổi về quản trị còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luât, điều lệ doanh nghiệp và các thỏa thuận của các bên khi tiến hành M&A Dựa vào quan hệ cạnh tranh giữa các bên liên quan thì hợp nhất gồm 03 loại sau: - Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều ngang ( Horizontal Mergers ): là sự hợp nhất giữa hai doanh nghiệp kinh doanh và cạnh tranh trực tiếp, chia sẻ cùng dòng 10 sản phẩm, thị trƣờng. Kết quả từ việc sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cho bên hợp nhất cơ hội mở rộng thị trƣờng, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thƣơng hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cƣờng hiệu quả hệ thống phân phối… Rõ ràng, khi hai đối thủ cạnh tranh trên thƣơng trƣờng kết hợp lại với nhau (dù hợp nhất hay thâu tóm ) họ không những giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên sức mạnh lớn hơn để đƣơng đầu với những đối thủ còn lại. - Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc ( Vertical Mergers ): là sự sáp nhập giữa hai doanh nghiệp nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trƣớc hoặc phía sau của doanh nghiệp sáp nhập trên một chuỗi giá trị nào đó.
Hình thức sáp nhập này đƣợc chia thành hai nhóm nhỏ: (i) Sáp nhập tiến ( forward ): trƣờng hợp này xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp là khách hàng của mình, vi dụ: doanh nghiệp may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo; (ii) Sáp nhập lùi ( backward ): trƣờng hợp này xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại nhà cung cấp của mình, ví dụ: doanh nghiệp sản xuất sữa mua lại doanh nghiệp sản xuất bao bì. Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho doanh nghiệp tiến hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lƣợng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh. - Sáp nhập doanh nghiệp tổ hợp (Conglomerate Mergers): bao gồm tất cả các loại sáp nhập khác. Mục đích của sáp nhập theo hình thức này nhằm giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, cắt giảm chi phí và cải tiến hiệu quả…Sáp nhập tổ hợp đƣợc phân thành 3 nhóm: (i) Sáp nhập mở rộng thị trƣờng: Diễn ra với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhƣng ở những thị trƣờng khác nhau về mặt địa lý (ii) Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra với hai công ty bán khác loại sản phẩm nhƣng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trƣờng 11 (iii) Sáp nhập kiểu tổ hợp/tập đoàn: Trong trƣờng hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhƣng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề.