Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Khái niệm về hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế 1. Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi việc theo đuổi các lợi ích kinh tế là mục tiêu cốt lõi trong hoạt động đối ngoại. Hoạt động đối ngoại vì mục tiêu kinh tế đã ra đời từ rất sớm.
Hầu như không có hoạt động đối ngoại nào là không gắn liền với mục tiêu, lợi ích kinh tế. Trên thế giới các khái niệm về Ngoại giao kinh tế (Economic Diplomancy), Ngoại giao thương mại (Commercial Diplomancy), Ngoại giao phát triển (Development Diplomancy) v.v ngày càng trở nên phổ biến. Nội hàm của Ngoại giao kinh tế cũng rất đa dạng và phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, trình độ phát triển, bộ máy tổ chức và từng giai đoạn phát triển khác nhau của một quốc gia. Nhìn chung, hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế cần được hiểu theo nghĩa rộng, tức là phát huy những thế mạnh của đất nước để tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ phát triển đất nước, đồng thời sử dụng các công cụ kinh tế để tác động vào chính sách đối ngoại của nước khác và qua đó thực hiện được mục tiêu chính sách đối ngoại của đất nước.
Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế nhìn từ mục tiêu của chính sách đối ngoại Hoạt động đối ngoại của bất kỳ nước nào từ xưa đến nay bao giờ cũng nhằm ba mục tiêu cơ bản đó là: góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; tranh thủ và tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước và nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế. Có thể nói, ba mục tiêu trên là không thay đổi, song nội dung cụ thể và phương pháp tiến hành thay đổi theo thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba mục tiêu này, liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại, tạo ra một thể thống nhất để phát triển đất nước, trong đó tranh thủ và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế là nhằm thực hiện sứ mệnh này.
Kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu năm 1990 đã mở ra thời kỳ mới để các nước trên thế giới tập trung sức người, sức của cho phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Việc tham gia mở rộng kinh tế đối ngoại không chỉ dừng lại ở mức độ tham gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, tạo môi trường thuận lợi, tham gia giải quyết những khúc mắc, khó khăn… mà còn đi vào những vấn đề rất cụ thể như xúc tiến thương mại, du lịch, đầu tư, thu hút viện trợ nước ngoài và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn. Nhiều nước như Anh, Canada, Thuỵ Điển, Hàn Quốc, Hà Lan kết hợp chặt chẽ về tổ chức giữa ngoại giao và thương mại. Philippines coi ngoại giao kinh tế là một trong ba trụ cột chính của chính sách đối ngoại.
Hội đồng kinh tế đối ngoại của philipppines do Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ Trưởng Công thương làm đồng chủ tịch. Bruney đặt yêu cầu ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, đa dạng hoá cơ cấu nền kinh tế, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu dầu lửa. Bộ Trưởng Ngoại giao Bruney là Chủ tịch Hội đồng kinh tế. Tại Ấn Độ, Bộ Ngoại giao là cơ quan thường trực của Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế với các nước… Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện ngoại giao của các nước ở nước ngoài đều tập trung dành thích đáng thời gian và nguồn lực, kể cả tài chính cho công tác kinh tế.
Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế tiếp cận từ khía cạnh công cụ của chính sách đối ngoại Việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại có một số điểm khác với lĩnh vực đối nội. Giới hạn quyền lực của Nhà nước bên ngoài phạm vi lãnh thổ của một quốc gia là một điểm làm cho chính sách đối ngoại khác với chính sách đối nội. Trong phạm vi chủ quyền của mình, một nhà nước có thể ra luật và có các biện pháp chế tài để yêu cầu các cấp chính quyền thấp hơn và nhân dân phải theo luật đó. Nhưng hệ thống luật pháp của một nước không có giá trị bắt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buộc đối với chính phủ và nhân dân của các nước khác vì các nước khác cũng thực hành chủ quyền trên phạm vi lãnh thổ nước mình.
Do đó, trong khi không có một trật tự luật pháp nào điều chỉnh quan hệ giữa các nước, quan hệ đối ngoại chủ yếu hoạt động theo một hình thức gián tiếp: chính phủ các nước hành động để làm sao cho chính phủ nước đối tác ra những luật lệ có lợi cho mình. Điều đó có nghĩa rằng chính sách đối ngoại của một nước (nước A) chỉ có thể thành công khi mà nó có quan hệ (nước B) thông qua hệ thống luật pháp của nước B đưa ra một hoặc nhiều đạo luật có lợi cho việc thực hiện lợi ích của nước A. Nhìn lại con đường phát triển của các quốc gia Đông Nam Á thời kỳ Văn minh đế chế, chúng ta thấy: Ở Đông Á, trong tiến trình hình thành và xác lập vị thế chính trị, kinh tế…ở những thế kỹ đầu sau Công nguyên đến khoảng thế kỷ IX, mỗi quốc gia hay trung tâm văn minh luôn cần một không gian (space), môi trường (environment) rộng lớn cho sự phát triển. Các thể chế chính trị khu vực Đông Á lúc bấy giờ luôn coi trọng nông nghiệp - nông dân - nông thôn.
Nhưng bên cạnh đó, những người đem các giá trị văn hóa của dân tộc mình hay khu vực đến một dân tộc khác, một cách vô thức, đã để lại cho thế hệ sau những hệ quả văn hóa, xã hội nằm ngoài ý thức hành vi truyền bá văn hóa [39, tr 54]. Nền kinh tế nông nghiệp cũng như du mục hay nói rộng ra là các thể chế nông nghiệp (Agricultural polities), cùng bản chất phát triển của các nền văn minh nông nghiệp đã quy định nên đặc tính đó. Các thể chế nông nghiệp luôn cần những châu thổ rộng lớn để tạo nguồn lương thực, tăng cường quốc khố và phát triển binh lực. Trong một ý nghĩa rộng lớn hơn, vị trí địa lý của một vùng đất, một quốc gia cũng phải được coi là nguồn tài nguyên giá trị.
Trên phương diện kinh tế, ngay cả các quốc gia có phạm vi lãnh thổ rộng lớn (đặc biệt là các đế chế) như Trung Hoa ở Đông Á, Ấn Độ ở Nam Á, Lưỡng Hà ở Tây Á hay Ai Cập ở châu Phi… dường như có đầy đủ, phong phú các nguồn tài nguyên nhưng trên thực tế nhu cầu phát triển tự thân của một đế chế luôn phải được bổ sung các nguồn tài nguyên hiếm hoặc bị thiếu hụt từ bên ngoài. Con đường để có được các nguồn tài nguyên đó có nhiều cách khác nhau nhưng thông thường các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cường quốc và đế chế thường hay tiến hành chiến tranh để cướp đoạt; ngoại giao để chinh phục, thâu nạp; và xác lập quan hệ giao thương để trao đổi, mua bán sản phẩm. Các đế chế thường áp dụng chính sách của kẻ mạnh tức là luôn muốn và có thể tương đối dễ dàng thực thi một trong ba hay đồng thời cả ba biện pháp trên. Nhưng, đối với các quốc gia trung bình và nhỏ thì nhìn chung chỉ có thể và có khả năng thực hiện chính sách bang giao hữu nghị đồng thời tìm mọi biện pháp để sinh tồn, phát triển bên cạnh “bóng đen của các đế chế vĩ đại” [40; tr 27].
Do có khả năng chiếm đoạt, mở rộng phạm vi lãnh thổ, xác lập được quyền lực của mình với các nước láng giềng, quốc gia nhỏ yếu khác nên trong không ít trường hợp nhiều quốc gia đã trở thành cường quốc khu vực. Trong quá trình phát triển, các cường quốc thường thể hiện tư duy “phi biên giới” (borderless) về phạm vi ảnh hưởng và quyền lực nên thường thực thi các chính sách đối ngoại mạnh mẽ để mở rộng lãnh thổ và xác lập quyền uy của mình. Như vậy, bằng nhiều cách và con đường khác nhau, một số cường quốc đã thực sự trở thành các đế chế (empire) khu vực. Điều đó có nghĩa là cho đến nay mục tiêu, chính sách đối ngoại của một nước được thực hiện thông qua đàm phán, thuyết phục, thoả hiệp, thậm chí đe doạ và cưỡng bức để làm cho các nước khác trong quan hệ với nước đó thoã mãn quyền lợi của nước mình [38; tr329].
Các chức năng này có thể thực hiện qua việc sử dụng các công cụ ngoại giao, kinh tế và sức mạnh quân sự. Việc sử dụng công cụ kinh tế để thực hiện mục tiêu đối ngoại cũng được coi là một hình thức hoạt động ngoại giao kinh tế. Một nước có thể dùng lợi ích kinh tế tác động vào chính sách đối ngoại của nước khác và qua đó thực hiện được mục tiêu chính sách đối ngoại của mình. Thông thường, một nước nhiều tiềm năng kinh tế có thể sử dụng các hình thức đòn bẩy kinh tế liên quan đến tài chính, thương mại, viện trợ, thế mạnh đàm phán (trong các tổ chức kinh tế quốc tế)… để gây ảnh hưởng chính sách đối với các nước khác.
Hình thức sử dụng các đòn bẩy bao gồm hai dạng: trừng phạt kinh tế và ưu đãi kinh tế. Trừng phạt 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế để gây sức ép trước những xu hướng bất lợi, và ưu đãi kinh tế để khuyến khích những xu hướng có lợi cho chính sách đối ngoại của nước sử dụng các biện pháp kinh tế đó. Không chỉ nước giàu mới có thể sử dụng công cụ kinh tế. Nước nghèo cũng có lợi thế so sánh của tình trạng chậm phát triển với các đặc điểm như sức mua của thị trường, cơ hội đầu tư, mầm mống của sự bất ổn chính trị có nguyên nhân từ đói nghèo, giá nhân công, nguồn tài nguyên chưa khai thác… Như vậy, đòn bẩy kinh tế vẫn có thể được coi là có tác dụng trong triển khai chính sách đối ngoại của các nước.
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế 1.