CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm Trợ giúp pháp lý, Trợ giúp viên pháp lý, Hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý trong vụ án hình sự và phương thức thực hiện việc bào chữa 1. Khái niệm Trợ giúp pháp lý Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực là làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ và các nhóm xã hội.
Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa và đặc biệt là trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý. Người nghèo thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàng ngày không phải dễ dàng. Tổ chức TGPL của Nhà nước ra đời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với 7 các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Ngày 18/5/1995, tại phiên họp Ban Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: Chúng ta cần chú ý đến các biện pháp để tăng cường hoạt động pháp lý mang tính kinh doanh, dịch vụ phục vụ đầu tư nhưng cũng cần chú trọng công tác tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho nhân dân, mà đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc ít người. Công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu và làm ngay trong thời gian tới [42]. Ngày 31/5/1995, Văn phòng Trung ương Đảng đã có Công văn số 485/CV-VPTW thông báo ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư gửi Chính phủ đề nghị “xác định phạm vi thích hợp hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, trước hết chú trọng tổ chức tư vấn pháp luật của nhà nước” [39].
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã nghiên cứu, thí điểm thành lập các Trung tâm TGPL của Nhà nước tại Cần Thơ, Hà Tây. Thuật ngữ “trợ giúp” có nhiều cách hiểu khác nhau như “là sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [41] hay “là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công” [31]. Thuật ngữ “pháp lý” thường được hiểu là “lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật”, là nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật trong một xã hội. Từ “trợ giúp” được hiểu tích cực là để giảm bớt khó khăn, hỗ trợ làm cho ai đó hoặc cái gì đó mà họ đang cần.
Khi kết hợp với “pháp lý”, cụm từ “Trợ giúp pháp lý” ám chỉ đến sự hỗ trợ, giúp đỡ về các vấn đề liên quan đến pháp luật mà một cá nhân hoặc tổ chức cần. 8 “Trợ giúp pháp lý” không chỉ đơn thuần là việc cung cấp thông tin về quy định pháp luật, mà còn bao gồm việc cung cấp hỗ trợ pháp lý, tư vấn và hướng dẫn về quy trình pháp lý, cũng như việc đại diện và bào chữa cho cá nhân hoặc tổ chức trong quá trình tố tụng. Điều quan trọng là “Trợ giúp pháp lý” giúp tạo ra sự công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng, cũng như giúp bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi và nhu cầu pháp lý của mọi người trong xã hội. Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” chính thức được khẳng định trong pháp luật từ năm 1997 với việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách [37].
Sau đó, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong các văn bản triển khai thực hiện Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ về TGPL tại Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại Điều 3, Luật TGPL năm 2006, như sau: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [33]. Tiếp đó tại Điều 2, Luật TGPL năm 2017, có nêu: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật, thêm vào đó khoản 1 Điều 4 Luật này quy định Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước [36]. 9 So với khái niệm về TGPL của Luật TGPL năm 2006, thì Luật TGPL năm 2017 đã điều chỉnh và định nghĩa về TGPL theo hướng phản ánh đúng bản chất và nội dung của dịch vụ này.
Trong Luật này, TGPL không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn được xác định cụ thể và rõ ràng hơn. Theo Luật TGPL năm 2017, TGPL là một dịch vụ pháp lý miễn phí, được cung cấp để giúp đỡ về mặt pháp lý cho những đối tượng khó khăn như người thuộc nghèo, các đối tượng chính sách, các đối tượng yếu thế. Khái niệm này không chỉ tập trung vào việc cung cấp thông tin về pháp luật mà còn đề cập đến việc hỗ trợ thực tiễn trong quá trình giải quyết các vấn đề pháp lý. Điều này phản ánh bản chất nhân đạo và ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc đảm bảo mọi cá nhân, đặc biệt là những người khó khăn, có quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý một cách công bằng và dễ dàng nhất.
Đồng thời, định nghĩa này cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc cung cấp và đảm bảo hoạt động của các tổ chức TGPL, từ đó tạo ra một xã hội công bằng và phát triển. Như vậy, TGPL được hiểu theo nghĩa rộng là một loạt các hoạt động được thực hiện miễn phí bởi cả Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm hỗ trợ cho những đối tượng khó khăn trong xã hội. Đối tượng này có thể là người thuộc nghèo, những người được hưởng chính sách ưu đãi, và một số đối tượng khác được quy định bởi pháp luật. Các dịch vụ TGPL bao gồm tư vấn pháp luật, bào chữa trong quá trình tố tụng, đại diện ngoài tố tụng.
Mục tiêu của các hoạt động này là đảm bảo rằng mọi công dân đều có cơ hội bình đẳng để tiếp cận và hiểu biết về pháp luật, từ đó đóng góp vào việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Điều này phản ánh cam kết của Nhà nước và cộng đồng trong việc tạo ra một môi trường pháp lý công bằng và an toàn cho tất cả các thành viên của xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài đề án, khái niệm TGPL được hiểu 10 theo nghĩa hẹp, theo đó: Trợ giúp pháp lý là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi, các đối tượng yếu thế khác (gọi chung là người được TGPL) thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Khái niệm Trợ giúp viên pháp lý TGVPL được xác định là một lực lượng của Nhà nước, đảm nhận vai trò trung tâm trong việc thực hiện TGPL, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch của quy trình pháp luật.
Với vai trò này, họ được giao nhiệm vụ chính và chịu trách nhiệm hàng đầu trong việc thực hiện các hoạt động liên quan đến TGPL. Đội ngũ TGVPL được hình thành trên cơ sở tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa, với yêu cầu cụ thể về kỹ năng và kiến thức chuyên ngành. Đội ngũ TGVPL phải đáp ứng những tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể, bao gồm cả kiến thức về pháp luật và khả năng áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn. Sự chuyên môn hoá và nâng cao trình độ là yếu tố quan trọng để đảm bảo rằng họ có thể thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả và chính xác nhất.
Với những đặc điểm trên, có thể hiểu Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước có trình độ pháp lý, kỹ năng nghề, được bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý làm việc tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm. Khái niệm hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý trong vụ án hình sự Việc thực hiện hoạt động bào chữa gắn với những bảo đảm của nhà nước liên quan đến việc thực hiện quyền bào chữa ngay từ những ngày đầu lập nước.