Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM 1. Nhà nước pháp quyền và vai trò của hoạt động xây dựng pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm và các nội dung cơ bản được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền.
Khái niệm Tổng kết quá trình phát triển lịch sử, nhân loại đã rút ra một phương thức tổ chức quyền lực công cộng được coi là tối ưu và đáp ứng được các yêu cầu của dân quyền. Phương thức đó được gọi là NNPQ. Theo đó, NNPQ là một phương thức tổ chức và vận hành quyền lực công cộng (tồn tại dưới hình thức nhà nước và pháp luật), dựa trên sự đúc kết những kỹ năng hợp lý và tinh thần dân chủ trong quản lý xã hội. Cần phân biệt NNPQ với kiểu nhà nước.
Về thực chất, kiểu nhà nước nhấn mạnh đến bản chất chính trị của quyền lực công cộng trong mối liên hệ chặt chẽ và biện chứng với giai cấp thống trị và với phương thức sản xuất xã hội. Trong khi đó, NNPQ là phương thức tổ chức và vận hành quyền lực công cộng theo các nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; phục tùng tính tối cao của pháp luật; phân công quyền năng; bảo vệ nhân quyền; dân chủ; công bằng. Đó là phương thức tổ chức nhà nước và pháp luật sao cho những quyền lực công cộng ấy mang đúng bản chất của dân, do dân và vì dân. Mặc dù giữa kiểu nhà nước và phương thức tổ chức nhà nước có mối liên hệ hữu cơ, nhưng chúng vẫn có tính độc lập tương đối, để có thể coi như hai đối tượng nghiên cứu chuyên biệt.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.TSKH Đào Trí Úc cho rằng “NNPQ đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức quyền lực chính trị. Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến NNQP” [48].TS Nguyễn Đăng Dung cho rằng: “NNPQ là một hình thức Nhà nước được phân tích trong mối tương quan giữa Nhà nước và pháp luật. NNPQ thể hiện tính dân chủ của nhân loại” [28].TS Hoàng Thị Kim Quế, khái niệm về NNPQ có thể được thể hiện trên những điểm cơ bản sau: NNPQ từ bản thân sự ra đời và sự hiện diện trên thực tế đã cho thấy đây là những mô thức tổ chức nhà nước, là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước khoa học, hợp lý, kiểm soát lẫn nhau giữa các loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở pháp luật, vai trò tương xứng với năng lực, có hiệu quả; pháp luật là phương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu, pháp luật mang tính pháp lý cao, tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích của con người [39, tr 16-17]. Các định nghĩa trên đã khai thác bản chất của NNPQ, đề cập tới mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với pháp luật và nhấn mạnh đến nguyên tắc “tôn trọng tính tối cao của pháp luật về pháp chế”.
Các định nghĩa trên đều giúp cho việc tiếp cận tới học thuyết NNPQ ở những khía cạnh khác nhau, song chưa bao quát được đầy đủ các đặc điểm cơ bản của học thuyết này. Tuy nhiên, NNPQ vốn là một vấn đề khó, do vậy khó có thể có sự lý giải thống nhất hoàn toàn về nó. Tuy có các định nghĩa, lý giải khác nhau về NNPQ nhưng trên những nét chính và ở những mức độ nhất định, những yếu tố hợp thành chế độ pháp quyền được vận dụng tương đối nhất quán. Bởi vì NNPQ chỉ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước giúp cho việc thực hiện những mục tiêu mang tính bản chất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của mỗi chế độ chính trị.
NNPQ bản thân nó không phải là bản chất của bất kỳ một Nhà nước nào. Một số nội dung cơ bản được thừa nhận trong NNPQ a, Đề cao vai trò của pháp luật Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật, nếu vi phạm pháp luật thì đều bị xử lý. Đặc điểm này thể hiện quyền lực của pháp luật và cũng từ quyền lực của pháp luật mà quyền của con người, quyền của công dân được bảo đảm thực hiện tốt hơn.
“NNQP là nhà nước bị hạn chế quyền lực, mà phương tiện hạn chế của nhà nước này là các văn bản quy phạm pháp luật, đứng đầu là bản hiến pháp” [29, tr. Trong trường hợp này, pháp luật là chuẩn mực cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân, đồng thời là chuẩn mực pháp lý cho việc phán xử hành động của các đối tượng này. Vì vậy, hệ thống pháp luật phải hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức. Trong hệ thống pháp luật đó, Hiến pháp và các đạo luật của Quốc hội giữ vị trí cao nhất, là công cụ chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý xã hội; cần hạn chế việc ban hành văn bản dưới luật khi các đạo luật của Quốc hội thực hiện được vai trò này.
b, Quyền con người, quyền công dân được đề cao và tôn trọng Ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một nội dung rất quan trọng của pháp luật trong xã hội hiện nay và cũng là một nội dung không thể thiếu của thuật ngữ “pháp quyền”. Đặc điểm này làm cho tư tưởng về nhà nước pháp quyền ngày nay khác với tư tưởng về nhà nước pháp luật trước đây, đó là: chỉ đề cao vai trò, sức mạnh của pháp luật còn quyền con người bị coi nhẹ. Thời đại ngày nay, quyền con người, quyền công dân mang đậm tính nhân văn và nhân đạo, hướng tới vì con người và phục vụ con người. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c, Bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân - Nhà nước phải có trách nhiệm đối với công dân.
Trách nhiệm của nhà nước đối với công dân ngày càng lớn do quyền của công dân ngày càng được đề cao và tôn trọng. Tuy nhiên, dù pháp luật đã quy định nhưng không có chủ thể bảo đảm thực hiện thì các quyền đó cũng chỉ tồn tại trên giấy mà thôi. Do vậy, nhà nước vừa là chủ thể làm ra pháp luật vừa phải có trách nhiệm bảo đảm cho pháp luật được thực thi trên thực tế. - Ngược lại, công dân trong xã hội pháp quyền không chỉ có quyền mà còn phải có trách nhiệm đối với nhà nước.
Trách nhiệm của công dân đối với nhà nước là để bảo đảm hiệu lực quản lý của nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước bảo đảm cho quyền của những công dân khác được thực hiện. d, Tòa án phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong thực tiễn luôn còn hiện tượng vi phạm pháp luật, xâm phạm đến vai trò của pháp luật, xâm hại đến quyền lợi của công dân, nghĩa là ảnh hưởng đến cả hai khía cạnh của “pháp quyền”, làm cho “pháp quyền” mất đi nội dung, ý nghĩa của nó. Do vậy, tòa án là thiết chế không thể thiếu để bảo vệ sự nguyên vẹn của “pháp quyền”. Muốn thực hiện được điều đó thì trong hoạt động xét xử, toà án không được chịu sự tác động của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào; đồng thời tòa án chỉ tuân theo những gì pháp luật đã quy định.
Vai trò của pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật trong nhà nước pháp quyền Pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong NNPQ. Trong hệ thống pháp luật của NNPQ, các đạo luật phải đóng vai trò chủ đạo, là hình thức chủ yếu của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật về nguyên tắc chỉ hướng dẫn thi hành luật, không được quy định 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thêm về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân là đối tượng điều chỉnh của đạo luật. Sự thống trị của các đạo luật mang tính pháp quyền sẽ hạn chế được sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước, bảo đảm quyền cơ bản của công dân, trật tự chung của xã hội. Trong mối quan hệ giữa pháp luật với Nhà nước trong NNPQ, quyền lực nhà nước phải được đặt dưới quyền lực pháp luật, pháp luật đứng trên Nhà nước để điều tiết Nhà nước.
Điều này được C.Mác lý giải trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Heghen” là do quyền lập pháp là quyền thiết lập chế độ nhà nước nên nó cao hơn chế độ nhà nước. Một nhà nước được hợp lý hoá phải được tổ chức trên cơ sở pháp lý do quyền lập pháp thiết lập. Hiến pháp và các đạo luật tổ chức nên quyền lực công. Chính luật Hiến pháp thiết lập nên chế độ nhà nước cho nên nó đứng trên Nhà nước, cao hơn Nhà nước để ràng buộc quyền lực nhà nước.
Một nhà nước không được tổ chức và vận hành trong khuôn khổ của pháp luật là một nhà nước “đứng ngoài vòng pháp luật”. Đây chính là những ý tưởng cốt lõi của một Nhà nước pháp quyền. Trong một chế độ dân chủ, Nhà nước là do nhân dân thành lập ra. Quyền lực của Nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân trao cho [41, tr 8-14].
Mọi hành vi của nhà nước đều không thể đi ngược lại lợi ích của những người đã tạo ra nó, có nghĩa là ý chí của nhân dân phải cao hơn ý chí của nhà nước. Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội là người đại biểu của nhân dân, bản chất của lập pháp là sự tự quy định của nhân dân nên luật pháp đứng cao hơn nhà nước, cũng có nghĩa là ý chí của nhân dân đứng cao hơn ý chí của Nhà nước. Luật pháp ràng buộc Nhà nước cũng có nghĩa là ý chí của nhân dân buộc Nhà nước phải phục tùng. Tóm lại, chính vì pháp luật của NNPQ được xây dựng trong một chế độ dân chủ đại diện cho ý chí của nhân dân nên pháp luật đó ràng buộc được Nhà nước.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì “Nhận diện NNPQ từ phương diện lập pháp được thể hiện tập trung ở chất lượng, tính khoa học, nhân văn của các sản phẩm lập pháp-các đạo luật pháp quyền và ở hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội” [39, tr.