đặt vấn đề điều tra, xác minh lại)”. Đến năm 1959, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành một số văn bản nhằm tăng cƣờng hoạt động của Toà án nhân dân nhƣ: Nghị định số 381-TTg ngày 20/10/1959 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định nhiệm vụ quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao, theo đó: “Toà án nhân dân tối cao có quyền xử lại những vụ án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm”. Đến cuối năm 1959, Hiến pháp 1959 đã có quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Điều 103 quy định nhƣ sau:"Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và Tòa án đặc biệt".
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn chung, giai đoạn trƣớc năm 1960 các văn bản quy định về thủ tục tố tụng còn rất ít. Từ năm 1959, sau khi ban hành Hiến pháp và Luật hôn nhân và gia đình, Nhà nƣớc đã ban hành các Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Pháp lệnh quy định về tổ chức của hai cơ quan này. Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 đã quy định cụ thể hơn về việc xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, theo đó Toà án nhân dân tối cao - Cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam sẽ có thẩm quyền xét lại hoặc giao cho Toà án nhân dân cấp dưới xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật những phát hiện có sai lầm (Điều 21). Tuy nhiên, về cơ sở lý luận và nếu phân tích nhiệm vụ giám đốc thẩm theo quy định tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 thì cần phải có sự phân biệt giữa giám đốc thẩm và giám đốc việc xét xử.
Giám đốc xét xử là sự kiểm tra hoạt động của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dƣới nhƣ kiểm tra, phát hiện sai lầm, giải quyết việc khiếu nại, tố cáo của công dân và các cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật. Thông qua công tác giám đốc việc xét xử, Tòa án tối cao đã tổng kết kinh nghiệm, hƣớng dẫn Tòa án các cấp áp dụng những quy định của hệ thống pháp luật, uốn nắn và khắc phục những sai lầm và đề xuất kháng nghị khi có những căn cứ theo quy định của pháp luật [7, tr. Giám đốc thẩm ở góc độ lý luận và thực tiễn đƣợc coi là một thủ tục đặc biệt để sửa chữa những sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án địa phƣơng. Tuy nhiên căn cứ để làm phát sinh trình tự giám đốc thẩm dân sự là kháng nghị của ngƣời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nhƣ vậy, nếu coi giám đốc xét xử là hoạt động có tính kiểm tra, thanh tra không bị lệ thuộc vào việc có hay không có kháng nghị thì thủ tục tục giám đốc thẩm lại phụ thuộc vào việc có kháng nghị hay không có kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến năm 1961, Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phƣơng đã quy định: Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ: “Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân tối cao những vụ án do Toà án mình hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện có sai lầm”. Tƣơng tự, Chánh án Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ƣơng hoặc đơn vị hành chính tƣơng đƣơng và Chánh án Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tƣơng đƣơng có nhiệm vụ: “Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân cấp trên hoặc đơn vị hành chính tương đương những vụ án do Toà án mình đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện thấy có sai lầm”. Căn cứ vào việc xét và báo cáo của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, các Chánh án Toà án nhân dân theo quy định này, các Toà án sẽ có thẩm quyền xử lại vụ án nhƣ sau: Toà dân sự của Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Xử lại những vụ án do Toà mình hoặc Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại”.
Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ƣơng hoặc đơn vị hành chính tƣơng đƣơng có thẩm quyền: “Xử lại những vụ án do Toà án mình hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại”. Từ năm 1961 đến năm 1976, Nhà nƣớc ta còn ban hành một số văn bản về thẩm quyền của Toà án và về tố tụng dân sự, nhƣ: Thông tƣ số 2421/TC ngày 2/12/1961 của Toà án nhân tối cao về việc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân, Thông tƣ số 02/TC ngày 20/02/1966 của Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn về thực hiện thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện trong tình hình mới, Thông tƣ số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Toà án nhân dân 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tối cao hƣớng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện hôn nhân và gia đình và tranh chấp về dân sự, Thông tƣ số 06/TATC ngày 25/02/1974 của Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn về công tác điều tra trong tố tụng dân sự, Thông tƣ số 25/TATC ngày 30/11/1974 của Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn việc hoà giải trong tố tụng dân sự, Bản hƣớng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tƣ số 96/NCLP ngày 08/02/1977 của Toà án nhân dân tối cao, Thông tƣ số 40-TATC ngày 01/6/1976 của Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn chế độ án phí, lệ phí và cấp phí tại Toà án nhân dân. Có thể thấy giai đoạn này khái niệm về “thủ tục giám đốc thẩm” chƣa chính thức xuất hiện mặc dù quy định tại các văn bản nêu trên về việc xét xử lại những vụ án đã có hiệu lực pháp luật gần giống với tính chất của một hoạt động giám đốc thẩm. Thực chất, đây không phải là thủ tục giám đốc thẩm theo cách hiểu hiện nay, trong giai đoạn này, khi có kháng nghị của Toà án hoặc Viện kiểm sát về một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật thì Toà án sẽ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm hoặc sơ thẩm.
Tuy nhiên, các văn bản này chính là nền tảng quan trọng cho việc phát triển chế định thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau này. Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1989 Sau khi Hiến pháp năm 1980 đƣợc ban hành, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đƣợc Quốc hội thông qua đánh dấu sự phát triển mới về tổ chức và thẩm quyền của Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Khái niệm về thủ tục giám đốc thẩm đƣợc chính thức xuất hiện trong hai đạo luật này. Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 quy định về giám đốc thẩm nhƣ sau: 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối tƣợng xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là: “Những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu thấy có vi phạm pháp luật.
Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương”. Chánh án Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp”. Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án nhân dân địa phương”. Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:”Là tổ chức xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm với nhiệm vụ giám đốc thẩm những quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”.
Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định khi thực hiện công tác xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền: “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới, khi thấy có vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật. Nhƣ vậy, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã xác định rõ thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhƣng có vi phạm pháp luật là thủ tục giám đốc thẩm, đồng thời quy định cụ thể về thẩm quyền kháng nghị, xét xử. Về thủ tục giám đốc thẩm hình sự, dân sự, ngày 01/02/1982 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tƣ pháp đã ban hành Thông tƣ liên bộ số 01/TTLB, nội dung hƣớng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình sự, dân sự ở Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng và cấp tƣơng đƣơng.