CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 LÍ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Công ty Mỹ Phẩm Việt (gọi tắt là VCOS) chưa có quy trình phát triển sản phẩm, các sản phẩm trước đây được phát triển xuất phát từ ý kiến của giám đốc công ty, dẫn đến: - Một số sản phẩm được phát triển và đưa ra thị trường không có tính khác biệt mới lạ so với đối thủ cạnh tranh, nên không được khách hàng ủng hộ. Tính từ năm 2011 đến 2013: công ty đã phát triển và đưa ra thị trường 24 sản phẩm, tuy nhiên chỉ có 8 sản phẩm mang lại hiệu quả cho công ty, còn lại 16 sản phẩm chiếm 66,67% trong tổng số 24 sản phẩm mới được phát triển, hiện tại công ty đang quản lý không mang lại lợi nhuận, đang chờ hết bao bì để ngưng sản xuất. - Quá trình phát triển sản phẩm mới hiện tại của công ty, các bộ phận không có sự phối hợp chặt chẽ, việc nắm bắt thông tin về sản phẩm mới giữa các bộ phận không rõ ràng, gây nhiều lãng phí trong quá trình phát triển sản phẩm mới do: + Kế hoạch phát triển sản phẩm mới thường xuyên phải điều chỉnh nhiều lần hoặc hủy dự án ở giai đoạn cuối của quá trình phát triển như: nguyên liệu cho sản phẩm mới đã nhập kho, nhưng hủy kế hoạch ra hàng, mô hình thiết kế bao bì đã thiết kế nhưng không sử dụng (tốn kém chi phí thiết kế). + Sản phẩm mới đã sản xuất 2-3 tháng nhưng bộ phận kinh doanh và marketing không nắm được thông tin để lên kế hoạch bán hàng.
+ Bao bì sản phẩm mới đã nhập kho 2-3 tháng nhưng bộ phận RD không biết thông tin để tiến hành sản xuất thử. Đây cũng chính là lý do dẫn đến việc hình thành đề tài: Hoàn thiện quy trình phát triển sản phẩm mới cho Công ty Mỹ Phẩm Việt.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI - Đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm của công ty VCOS. - So sánh một số quy trình phát triển sản phẩm mới. - Xây dựng quy trình phát triển sản phẩm phù hợp với đặc tính sản phẩm của công ty.3 PHẠM VI ĐỀ TÀI - Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi ngành hàng mỹ phẩm ở thị trường Việt Nam.
- Thời gian thu thập dữ liệu: từ năm 2011 – nay.4 CÂU HỎI ĐỀ TÀI - Quy trình phát triển sản phẩm mới của các tổ chức hoặc các công ty khác được thực hiện như thế nào? - Quy trình phát triển sản phẩm mới nào là mục tiêu mà các công ty đang theo đuổi? - Các sản phẩm trong giai đoạn từ 2011- nay của công ty VCOS được hình thành và phát triển như thế nào? Từ đó xác định và đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm của công ty. Những năng lực phát triển sản phẩm hiện tại của công ty là gì? Những năng lực/yếu tố nào cần bổ sung để giúp xây dựng quy trình phát triển sản phẩm mới phù hợp cho công ty? - Quy trình phát triển sản phẩm mới nào phù hợp với công ty VCOS? 3 1.5 QUY TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI - Bước 1: Tìm hiểu lý thuyết về sản phẩm mới và tổ chức phát triển sản phẩm mới. - Bước 2: Tìm hiểu một số qui trình phát triển sản phẩm mới của các tổ chức và công ty khác đang áp dụng. - Bước 3: Tìm hiểu thực trạng phát triển sản phẩm mới của công ty Mỹ Phẩm Việt.
- Bước 4: So sánh các quy trình phát triển sản phẩm mới đã tìm hiểu được ở lý thuyết, chọn ra quy trình đầy đủ nhất làm khung phân tích thực trạng phát triển sản phẩm của công ty Mỹ Phẩm Việt. - Bước 5: So sánh quy trình của công ty Mỹ Phẩm Việt với các quy trình phát triển sản phẩm mới đã tìm hiểu được từ lý thuyết, từ đó đề xuất qui trình phát triển sản phẩm mới phù hợp cho công ty Mỹ Phẩm Việt. - Bước 5: Đánh giá qui trình phát triển sản phẩm mới đề xuất. 4 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ bao gồm ba phần chính: (1) khái niệm về sản phẩm mới (2) các vấn đề cần quan tâm trong công tác tổ chức phát triển sản phẩm mới (3) tìm hiểu về quy trình phát triển sản phẩm mới của Urenio, công ty 3M và thiết kế cho 6 sigma.1 KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM MỚI Định nghĩa sản phẩm mới Sản phẩm mới được phát triển và phân loại dựa trên 6 dạng (Annacchino, 2003): - Sản phẩm mới đối với thế giới: tức là những sản phẩm mới tạo ra một thị trường hoàn toàn mới.
Đây có thể là một sự phát triển mang tính cách mạng cho thị trường. Trong một số trường hợp chúng có thể tạo ra các kênh bán hàng mới và các phân khúc mới cho thị trường. - Dòng sản phẩm mới: Những sản phẩm mới cho phép công ty thâm nhập lần đầu tiên vào một thị trường đã có sẵn, bằng cách thêm vào những loại mới. - Bổ sung loại sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới bổ sung thêm vào các loại sản phẩm hiện có của công ty (thay đổi kích cỡ, hương vị, .) - Cải tiến sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới có những tính năng tốt hơn hay giá trị nhận được cao hơn và thay thế những sản phẩm hiện có.
Bằng cách thiết kế lại sản phẩm hoặc bao bì của nó, công ty có thể cung cấp một giá trị lớn hoặc sự hài lòng cho khách hàng. - Sản phẩm được định vị lại: Những sản phẩm hiện có được nhằm vào thị trường hay những phân khúc thị trường mới. Tái định vị thực sự là một hoạt động tiếp thị, chứ không phải là một hoạt động phát triển. Tái định vị là một biện pháp tạm thời giúp cho việc tạo ra doanh thu từ sản phẩm hiện có.
5 - Sản phẩm giảm chi phí: Những sản phẩm mới có những tính năng tương tự nhưng với chi phí thấp hơn. Những cơ hội tạo sản phẩm mới Sản phẩm mới thường tạo ra bởi những cơ hội (Heizer & Render, 2011) như: - Khi có sự thay đổi về kinh tế, chính trị, chính sách chế độ của nhà nước. - Khi có sự thay đổi về công nghệ. - Khi có sự thay đổi trên thị trường: tập quán thị trường, tiêu chuẩn nghề nghiệp, số lượng người mua, người bán, giá cả… Tầm quan trọng của sản phẩm mới Sản phẩm mới nếu được phát triển thành công sẽ có sự đóng góp đáng kể vào phần trăm doanh thu của công ty: đối với các công ty đang dẫn đầu ngành là hơn 45% doanh thu đến từ sản phẩm mới, đối với các công ty nằm ở vị trí 1/3 top trên của ngành là hơn 30% doanh thu, đối với các công ty nằm ở vị trí 1/3 giữa của ngành là hơn 25%, và các công ty nằm ở 1/3 cuối của ngành thì doanh thu từ sản phẩm mới chiếm từ 1- 10% tổng doanh thu (Heizer & Render, 2011).
Như vậy, phần lớn doanh thu của các công ty đều đến từ các sản phẩm ra đời ít hơn 5 năm. Vì vậy vai trò của sản phẩm mới đóng góp rất lớn vào doanh thu của công ty. Tuy nhiên không phải sản phẩm mới nào cũng mang lại thành công cho công ty.2 TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI Khi tiến hành tổ chức phát triển sản phẩm cần quan tâm đến công tác tổ chức phát triển sản phẩm và hình thức tổ chức thiết kế sản phẩm (Đồng Thị Thanh Phương, 2008).1 Công tác tổ chức phát triển sản phẩm mới Tổ chức hệ thống các bộ phận tham gia Việc này không đơn thuần chỉ là việc thiết lập một hệ thống các bộ phận, tổ chức có chức năng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, mà còn bao gồm cả việc phân công trách nhiệm tổ chức sự chuyên môn hoá và hợp tác giữa các bộ phận. Cơ chế hoạt động cũng như sự liên kết, hợp tác với các cơ sở khác ngoài doanh nghiệp.
Mục đích của việc này là đảm bảo được sự tham gia của các bộ phận thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau để ngay từ đầu có thể loại bỏ bớt tính không tưởng, tính phi thực tế của sản phẩm và công nghệ mới. Trong việc tổ chức hệ thống các bộ phận làm chức năng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, không chỉ cần đến sự hợp tác liên ngành, mà cần chú ý đến việc làm sao cho các nguồn lực không bị phân tán, mất lợi thế về mặt thời gian trong cạnh tranh. Tổ chức các hoạt động Trong việc tổ chức các hoạt động dài hạn của công tác nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, ngoài việc phân công cụ thể cho các bộ phận có liên quan, còn cần tìm kiếm thực hiện các biện pháp nhằm lôi cuốn đông đảo người lao động và các cán bộ thuộc các cấp khác nhau trong hệ thống quản lý. Để làm được việc này người ta có thể áp dụng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, một cách linh hoạt.
Tổ chức lực lượng cán bộ Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù chỉ là sản xuất kinh doanh thuần tuý (không tổ chức bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và công nghệ riêng), thì vẫn cần những sản phẩm và công nghệ mới, cũng có những cán bộ có khả năng nghiên cứu theo hướng này.2 Các hình thức tổ chức thiết kế sản phẩm mới Hình thức tổ chức thiết kế sản phẩm thường dựa trên 3 mối quan hệ giữa các bên tham gia Quan hệ với tư cách là những bên mua−bán: Thông thường là hàng hoá được giao dịch là sản phẩm và công nghệ mới, tồn tại dưới dạng bản vẽ, bản mô tả. Quan hệ giữa 2 bên không đơn thuần là mua bán mà còn có sự hợp tác trong quá trình triển khai, đưa ý đồ, bản vẽ thành hiện thực. Trong nhiều trường hợp bên mua (đơn vị sản xuất kinh doanh) cũng cung cấp những điều kiện mình có (nhà xưởng, thiết bị .) để các cơ sở nghiên cứu sử dụng thí nghiệm theo đề tài của họ. Quan hệ liên kết giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh: Đơn vị trực tiếp sử dụng kết quả nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và công nghệ, với tư cách là bên mua hoặc bên góp vốn và các điều kiện khác nhằm khai thác lợi ích của sản phẩm, công nghệ mới với các cơ sở nghiên cứu thiết kế sản phẩm và công nghệ mới.
Tổ chức các cơ sở nghiên cứu như những bộ phận độc lập Thường gặp ở các tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô lớn. Nhiệm vụ của bộ phận này được tập trung hóa vào khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm và công nghệ mới.