Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quy trình kiểm tra kê khai thuế TNDN do cơ quan thuế thực hiện. Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm tra kê khai thuế TNDN tại Chi cục thuế huyện Krông Ana. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm tra kê khai thuế TNDN tại Chi cục thuế huyện Krông Ana. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản lý về thuế là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nƣớc.
Quản lý Nhà nƣớc về thuế đảm bảo cho nhà nƣớc có một nguồn thu ổn định, đáp ứng đƣợc vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nƣớc. Để công tác quản lý thuế có hiệu quả thì công tác kiểm tra phải luôn đƣợc tăng cƣờng. Công tác kiểm tra kê khai thuế TNDN tại Chi cục Thuế huyện Krông Ana trƣớc đây chƣa có đề tài nào nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả căn cứ trên các tài liều nhƣ Quy trình kiểm tra quyết định số 528/QĐ – TCT ngày 29/05/2008, Luật thuế thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, nghị định số: 124/2008/NĐ-CP, thông tƣ Số: 130 /2008/TT-BTC hƣớng dẫn thi hành một số điều luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thông tƣ số 123/2012/TT-BTC hƣớng dẫn thi hành một số điều luật theo nghị định 124/2008/NĐ-CP.
Bên cạnh đó tác giả có tham khảo nội dung của một số đề tài có liên quan đƣợc nghiên cứu trƣớc đây nhƣ sau: * Đề tài “Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai – tự nộp trên địa bàn tỉnh Phú Yên” - Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (Tác giả Nguyễn Ngọc Duy - năm 2009). Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về cơ chế tự khai tự - nộp thuế và đề cập đến thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai – tự nộp của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Đề tài đã nêu ra đƣợc những hạn chế và nguyên nhân từ thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Trên cơ sở định hƣớng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và những nguyên nhân hạn chế đối với công tác thanh tra, kiểm tra theo cơ chế tự khai tự nộp tác giả đề xuất các nhóm giải pháp để đảm bảo hoàn thiện thanh tra, kiểm tra theo cơ chế tự khai tự nộp.
Tuy nhiên đề tài chƣa đi sâu vào công tác kiểm tra, Luan van 4 quy trình kiểm tra của cơ quan thuế, chƣa đi vào phân tích sổ sách, chứng từ để nhận dạng rủi ro và phát hiện gian lận của ngƣời nộp thuế. * Đề tài “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ” - Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng (Tác giả Trần Văn Ninh- năm 2012). Đề tài của tác giả Trần Văn Ninh đã nêu khái quát quy trình kiểm tra TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ, tp Đà Nẵng va thực trạng công tác kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ. Đề tài đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế TNDN; trong đó có các giải pháp để hoàn thiện bƣớc lập kế hoạch kiểm tra trong quy trình kiểm tra thuế TNDN nhƣ sử dụng mô hình phân tích rủi ro khi lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế TNDN theo nội dung: Xây dựng tiêu chí đánh giá rủi ro nhƣ quy mô doanh nghiệp, chấp hành pháp luật thuế, hiệu quả kinh doanh; Gán điểm cho từng tiêu chí; Sau khi gán điểm số theo các tiêu chí trên, tiến hành tính tổng cộng điểm số của các tiêu chí và xếp độ rủi ro từ cao xuống thấp theo nguyên tắc điểm càng cao rủi ro càng lớn và ngƣợc lại.
Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nêu khái quát kỹ năng phân tích tài liệu kế toán khi kiểm tra thuế. Chƣa đi sâu kiểm tra sổ sách, chứng từ một cách chi tiết để nhằm nhận dạng các rủi ro, phát hiện các gian lận ở các khoản mục trên hồ sơ, sổ sách. * Đề tài “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk” - Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng (Tác giả Nguyễn Đức Hạnh - năm 2011). Đề tài đã nêu khái quát quy trình thanh tra, kiểm tra thuế TNDN tại Cục thuế Tỉnh Đăk Lăk, nhấn mạnh hiệu quả của công tác kiểm soát thuế TNDN phụ thuộc và hệ thống siểm soát nội bộ và những hạng chế còn tồn tại từ thực Luan van 5 trạng công tác kiểm soát thuế TNDN.
Từ đó đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm tăng cƣờng kiểm soát sắc thuế này. Trong đó có giải pháp tiến hành thanh tra, kiểm tra các đối tƣợng nộp thuế theo mức độ rủi ro nhằm kiểm soát tốt hơn các đối tƣợng này thay vì thanh tra tất cả. Cũng nhƣ các đề tài tìm hiểu trên, đề tài mới chỉ khái quát quy trình thanh tra, kiểm tra thuế TNDN, chƣa đi sâu kiểm tra sổ sách chứng từ, chƣa đi sâu phân tích rủi ro để nhận diện các sai phạm trên hồ sơ thuế. * Đề tài “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Phú Yên” - Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng (Tác giả Nguyễn Văn Vũ - năm 2012).
Đề tài đã khái quát đƣợc nội dung kiểm soát thuế, quy trình thanh tra kiểm tra thuế TNDN và phản ánh đƣợc thực trạng công tác kiểm soát thuế, kiểm tra thuê TNDN do Cục thuế tỉnh Phú Yên thực hiện và các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác kiểm soát thuế TNDN. Bên cạnh đó đề tài đã đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TNDN trên địa bàn tỉnh Phú Yên, trong đó có giải pháp “ Chuyển sang cơ chế thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro về thuế và phƣơng pháp quản lý rủi ro”. Bằng cách chuyển từ thanh tra theo diện rộng, thanh tra, kiểm tra toàn diện sang thanh tra kiểm tra theo chuyên đề và nội dung vi pham. Qua nghiên cứu các đề tài, hầu nhƣ các đề tài mới chỉ nêu khái quát đƣợc quy trình thanh tra, kiểm tra thuế.
Chƣa đi sâu vào nghiên cứu nội dung quy trình kiểm tra thuế, chƣa phân tích số liệu, nghiên cứu tài liệu, sổ sách chứng từ. Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm tra kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp do Chi cục Thuế huyện Krông Ana thực hiện” làm đề tài luận văn. Luan van 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TRA KÊ KHAI THUẾ TNDN DO CƠ QUAN THUẾ THỰC HIỆN 1. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và phƣơng pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp a. Khái niệm Trên thế giới thuế TNDN có những tên gọi khác nhau tùy theo quan niệm, theo quy định của mỗi nƣớc hoặc tùy vào dịch thuật mà những tài liệu khác nhau có những tên gọi khác nhau. Cụ thể nhƣ thuế TNDN còn đƣợc gọi là thuế công ty, thuế thu nhập công ty hay thuế lợi tức. Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế bƣớc I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã đƣợc ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhƣợc điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã đƣợc ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Theo nội dung của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 thì “Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế”.
Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp Căn cứ theo luật thuế TNDN số: 14/2008/QH12, thông tu 130 /2008/TT-BTC thì phƣơng pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp xác định: Luan van 7 Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất. Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế TNDN Trƣờng hợp doanh nghiệ ỹ phát triển khoa học và công nghệ thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đƣợc xác định nhƣ sau: Thuế TNDN phải nộp = ( Thu nhập tính thuế - Phần trích lập quỹ KH&CN) x Thuế suất thuế TNDN Trƣờng hợp doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc loại thuế tƣơng tự thuế thu nhập doanh nghiệp ở ngoài Việt Nam thì doanh nghiệp đƣợc trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp nhƣng tối đa không quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Kỳ tính thuế đƣợc xác định theo năm dƣơng lịch. Trƣờng hợp doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dƣơng lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tài chính áp dụng.
Kỳ tính thuế đầu tiên đối với doanh nghiệp mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản đƣợc xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Trƣờng hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập kể từ khi đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và kỳ tính thuế năm cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 03 tháng thì đƣợc cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với doanh nghiệp mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trƣớc đó (đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ Luan van 8 tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm đầu tiên hoặc kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm cuối cùng không vƣợt quá 15 tháng.