CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC VỐN BẰNG TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH: 1. Khái niệm kiểm toán BCTC Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng của kiểm toán, với mục tiêu cụ thể là “đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” (theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200/11) Đối tượng của kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bảng khai tài chính là BCTC.
Báo cáo tài chính được lập và trình bày theo chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán (doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính được xác định là báo cáo tài chính được lập và trình bày theo khuôn khổ về trình bày hợp lý. Ngoài ra, bảng khai tài chính còn bao gồm những bảng kê khai có tính pháp lý khác nhau như Bảng lương, Bảng kê khai tài sản, Bảng kê khai công cụ dụng cụ, danh sách công nợ phải thu… 1. Nội dung kiểm toán BCTC Công việc kiểm toán Báo cáo tài chính năm kết thúc kỳ/năm của Quý đơn vị tuân theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam, các chuẩn mực Quốc tế được thừa nhận ở Việt Nam. Cuộc kiểm toán phải thực hiện được các nội dung sau: - Việc quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn của đơn vị.
- Việc chấp hành các chế độ quản lý kinh tế tài chính - kế toán thống kê của Nhà nước. Cuộc kiểm toán phải làm rõ được các vấn đề sau: Luan van 9 - Các thông tin tài chính có được lập trên cơ sở các chế độ tài chính, kế toán hiện hành của Nhà nước Việt Nam hay không? Các chế độ này có được áp dụng một cách nhất quán và kịp thời không? - Các thông tin trên Báo cáo tài chính có phản ánh một cách trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán; về tình hình hoạt động của đơn vị trong niên độ kế toán. - Cuộc kiểm toán cũng đòi hỏi phải đưa ra các ý kiến nhận xét về hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán của đơn vị, bao gồm các nhận xét về: + Công tác ghi chép chứng từ kế toán, luân chuyển chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán và công tác quản lý, lưu trữ các chứng từ kế toán. + Phương pháp lập Báo cáo tài chính và các Báo cáo quản trị, các tài liệu kế toán có liên quan.
+ Công tác hạch toán kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. Mục tiêu kiểm toán BCTC Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu của kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán tháy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Để đạt được mục tiêu tổng quát đó, trong quá trình thực hiện kiểm toán người ta chia thành một hệ thống mục tiêu gồm mục tiêu chung và mục tiêu đặc thù.
Các mục tiêu kiểm toán chung lại được chia thành hai loại cụ thể là sự hợp lý chung và các mục tiêu khác. Còn các mục tiêu đặc thù được xác định trên mục tiêu chung và đặc điểm của khoản mục hay phần hành cùng cách phản ánh chúng trong hệ thống kế toán và cách theo dõi chúng trong hệ thống KSNB. Rủi ro trọng yếu Rủi ro có sai sót trọng yếu: Là rủi ro khi BCTC chứa đựng những sai sót trọng yếu trước khi kiểm toán. Tại cấp độ cơ sở dẫn liệu, rủi ro có sai sót trọng yếu bao gồm hai bộ phận.
Luan van 10 - Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi Xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan. Ý nghĩa: Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán. Mức rủi ro tiềm tàng ở mỗi doanh nghiệp mà KTV dự kiến cao thấp khác nhau sẽ là căn cứ và là cơ sở để KTV xác định về khối lượng, quy mô, phạm vi công việc kiểm toán cần thực hiện. Đây sẽ là căn cứ để KTV dự kiến biên chế, thời gian, chi phí và các phương tiện cần thiết khác cho một cuộc kiểm toán.
- Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Ý nghĩa: Việc nghiên cứu rủi ro kiểm soát giúp cho KTV xem xét những nhân tố có khả năng gây ra sai phạm trọng yếu, xác định được phạm vi kiểm toán cần thiết đối với những sai sót trọng yếu có thể tồn tại trong BCTC, xác định thủ tục kiểm toán cơ bản thích hợp về phạm vi, quy mô và thời gian vận dụng thủ tục kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: Bằng chứng kiểm toán là tất cả các số liệu, thông tin mà các kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên dựa trên thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình. Cũng theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: Bằng chứng kiểm toán bao gồm tất cả các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác.
Theo đó bằng chứng có thể là những thông tin bằng văn bản, thông tin bằn lời nói, các chứng từ sổ sách, các biên bản kiểm kê, giấy xác nhận của khách hàng… Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm giảm rủi ro kiểm toán xuống một mức thấp có thể chấp nhận được, từ đó cho phép KTV đưa ra các kết luận phù hợp làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán. Quy trình kiểm toán Cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm 3 giai đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, kết thúc công việc kiểm toán. Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán được quy đinh trong chuẩn mực kiểm toán số 300. Theo đó: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả.
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV vần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán.Lập kế hoạch kiểm toán gồm 6 bước sau: - Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán - Thu thập thông tin cơ sở - Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích - Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát - Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và soạn thảo chương trình kiểm toán Giai đoạn 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực hợp lý của BCTC trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Trên thực tế, quá trình này là việc KTV thực hiện các loại thủ tục kiểm toán: Thủ tục kiểm soát Thủ tục phần tích Thủ tục kiểm tra chi tiết Ba loại thủ tục này thưởng được thực hiện theo trình tự và phụ thuộc vào nhau. Kết quả của của thủ tục trước là cơ sở để thực hiện thủ tục tiếp theo. Luan van 12 Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán Đây là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán BCTC.
Yêu cầu của giai đoạn này là KTV đưa ra kết luận kiểm toán và lập BCKT, còn nội dung công việc của giai đoạn này gồm: - Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến - Xem xét các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ. - Xem xét các giả thiết hoạt động liên tục của đơn vị. - Đánh giá kết quả và tổng hợp bằng chứng kiểm toán. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC VỐN BẰNG TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
Mục tiêu kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền Trước khi bắt đầu thực hiện một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định rõ rang mục tiêu của cuộc kiểm toán đó, bắt đầu từ những mục tiêu chung cho đến những mục tiêu cụ thể cho từng phần hành kiểm toán, kết hợp với những hiểu biết về đơn vị để quyết định mục tiêu trọng yếu và cần tập trung vào phần hành nào. Mục tiêu kiểm toán có giá trị giúp kiểm toán viên vạch ra nền tảng của cuộc kiểm toán, từ đó xác định khối lượng công việc, thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp phục vụ cho việc thực hiện kiểm toán và hoàn thành công việc trong tiến độ. Trong kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền, cụ thể các mục tiêu kiểm toán được xác định như sau. Mục tiêu kiểm toán chung: Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực và hợp lý của khoản mục vốn bằng tiền trên các báo cáo tài chính ( trước hết là Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính).
Cụ thể mục tiêu kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền bao gồm: Sự phát sinh: Các nghiệp vụ về thu tiền, chi tiền đã ghi sổ là thực sự phát sinh trong kì. Sự hiện hữu: Số dư tài khoản vốn bằng tiền tại ngày lập BCTC là thực sự hiện hữu (tồn tại).