CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài, thuật ngữ tiếng anh là Foreign direct investment – viết tắt là FDI, tuy ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ nhưng FDI đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đây là hình thức đầu tư khá phổ biến bởi các nhà ĐTNN có thể nắm quyền kiểm soát, quản lý tài sản, cũng như hoạt động kinh doanh một cách toàn diện để đạt được tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn.
Hiện nay trên thế giới, quan điểm về thuật ngữ FDI của mỗi tổ chức, quốc gia cũng có những sự khác biệt Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2008) định nghĩa FDI là một loại hình đầu tư xuyên biên giới được thực hiện bởi một chủ ĐTNN với mục tiêu thiết lập một lợi ích dài hạn tại một doanh nghiệp đặt tại một quốc gia khác bằng cách (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). "Lợi ích dài hạn" ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và sự ảnh hưởng đánh kể đến việc quản lý sau này. BPM6 (2009) của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra cách hiểu FDI là một loại hình đầu tư xuyên biên giới, trong đó nhà ĐTNN có quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động quản lý doanh nghiệp đặt tại một quốc gia khác. Định nghĩa này nhấn mạnh đến khía cạnh hoạt động đầu tư của FDI nhưng chưa nêu được động cơ, mục đích đầu tư rõ ràng.
Trong Báo cáo Đầu tư Thế giới (World Investment Report) 1999 của Liên hiệp quốc (Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển, UNCTAD, 1999) định nghĩa FDI là một loại hình đầu tư liên quan tới mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một chủ thể cư trú tại một nền kinh tế đối với một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác. Trong định nghĩa này, cụm từ “dài hạn” được sử dụng để phân biệt FDI với đầu tư theo danh mục (hay đầu tư gián 7 tiếp), loại hình đầu tư trong ngắn hạn và liên quan tới doanh thu cao từ các loại chứng khoán. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Tại Việt Nam, theo khoản 2 điều 3 Luật đầu tư (2005) giải thích “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và theo khoản 12 điều 3 Luật đầu tư (2005) thì “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Mặc dù theo Luật đầu tư 2020 không có khái niệm về FDI, tuy nhiên, nhắc tới hai khái niệm liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Nhà ĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” và “Tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN là tổ chức kinh tế có nhà ĐTNN là thành viên hoặc cổ đông”.
Tựu trung lại, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà ĐTNN bỏ vốn và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam. Về bản chất, điều này hoàn toàn thống nhất với cách hiểu về FDI thông dụng trên thế giới. Như vậy, FDI chính là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư, nhằm đạt được lợi nhuận dài hạn hoặc các lợi ích kinh tế khác, trên cơ sở tuân thủ Luật Đầu tư của nước sở tại. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận Vấn đề cốt lõi mà nhà ĐTNN quan tâm chính là lợi nhuận về phía họ. Các nhà đầu tư thường tìm đến các quốc gia mà họ có thể tối thiểu hóa chi phí sản xuất, chi phí nhân công… để nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng chính 8 bởi vậy, các yếu tố liên quan đến kinh tế vĩ mô của nước chủ nhà thường bị xem nhẹ. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của nước đầu tư với mục tiêu của nước nhận đầu tư, gây ra ảnh hưởng xấu tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như môi trường của nước chủ nhà (Nguyễn Thanh Nhã, 2017).
Nếu nước sở tại không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học tất yếu sẽ dẫn tới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các nước đang phát triển cần hết sức lưu tâm vấn đề này trong quá trình thu hút và sử dụng FDI, để trang bị một hành lang pháp lý đủ mạnh, hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ đơn phương phục vụ cho lợi ích của chủ đầu tư. FDI là hình thức đầu tư dài hạn Chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tính chuyện làm ăn lâu dài chứ không mang tính đầu cơ như đầu tư gián tiếp, kể cả trong trường hợp không muốn tiếp tục dự án, họ cũng không dễ dàng thu hồi vốn trong thời gian ngắn bởi lúc này vốn đang nằm trực tiếp trong nhà xưởng, máy móc, thiết bị. tại quốc gia nhận đầu tư, cần phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới có thể mang về nước được.
Điều này tạo ra một ưu điểm đối với nước tiếp nhận FDI là mức độ ổn định của dòng vốn tương đối cao. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nền kinh tế của nước nhận đầu tư cũng sẽ vì thế mà bị phụ thuộc vào kinh tế khu vực FDI. Đặc biệt, nếu xét đến những dự án có ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội – môi trường của nước sở tại thì đặc tính lâu dài, khó rút vốn sẽ càng làm trầm trọng thêm các hệ lụy. Chủ đầu tư nắm quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với doanh nghiệp được đầu tư Chủ ĐTNN có quyền chủ động lựa chọn lĩnh vực, hình thức đầu tư cũng như thị trường và quy mô đầu tư trong khuôn khổ pháp luật; đồng thời phải trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ buộc phải cố gắng đưa ra những quyết định đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Đặc điểm đó khiến FDI vừa mang tính khả thi và hiệu quả sử dụng vốn cao, vừa không dính dáng đến những ràng buộc về chính trị (mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ) hay để lại gánh nặng nợ nần cho nước sở tại. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua máy móc thiết bị, phát minh, sáng chế… Hoạt động FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà cùng với nó còn có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, trình độ quản lý. Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi hầu hết các nước đang phát triển có trình độ khoa học công nghệ còn non trẻ, trong khi phần lớn những kỹ thuật tiên tiến được phát minh trên thế giới xuất phát từ các nước công nghiệp phát triển.
Ngày nay, FDI đang dần trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ trên phạm vi quốc tế. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Sự ổn định chính trị- xã hội Dòng vốn FDI chịu sự chi phối của sự ổn định chính trị - xã hội. Bất kỳ sự xáo trộn, bất ổn nào trong đời sống chính trị - xã hội cũng đều gây tác động không nhỏ đến lợi ích của nhà đầu tư, dẫn đến tình trạng giảm sút lòng tin và xa hơn nữa là quyết định rút vốn, ngừng dự án với tâm lý e sợ rủi ro.
Điển hình là trường hợp của Trung Quốc, mặc dù là một thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng nhưng FDI vào quốc gia này những năm gần đây đã giảm do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (Phạm Văn Thiện, 2019). Mặt khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà ĐTNN thì họ sẽ mặc sức hoạt động nhằm tư lợi cá nhân, không theo định hướng, chiến lược phát triển của nước nhận đầu tư. Môi trường kinh tế vĩ mô Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng trong hoạt động thu hút và sử dụng FDI.
Nền kinh tế bản địa càng ổn định thì sự an toàn và khả năng sinh lợi của đồng vốn càng được đảm bảo. Mức độ ổn định kinh tế vĩ mô được đánh giá dựa trên tiêu chí chống lạm phát và ổn định tiền tệ, được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, độ mở cửa thị trường, đồng thời phải kiểm soát được mức thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân bằng.