CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, KHOA HỌC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị: 1.1 Quan niệm về cơ sở hạ tầng giao thông đô thị: Cơ sở hạ tầng đô thị là toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện, giao thông liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng, dầu, dẫn khi ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên ngiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, rác thải môi trường đô thị, v.v… Theo từ chuẩn Anh – Mỹ, thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” (infrastructure) được thể hiện trên 4 bình diện: Một là, tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng (điện…), viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt chuyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý chất thải trong thành phố. Hai là, công chính (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục cụ tưới tiêu. Ba là, giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính quy (Conventionnial railway) đường sắt vận chuyển nhanh (massrapid transit tailway) cảng cho tàu và máy bay, đường thủy,. Bốn là, hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện,.
Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị. Nó chính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn. Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị: Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể phân chia CSHTĐT thành nhiều loại khác nhau. - Theo tính chất ngành cơ bản có thể phân ra: 5 Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị.
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị. Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị. - Theo tính phục vụ có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phục vụ sản xuất vật chất. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phục vụ về nhu cầu văn hóa tinh thần.
- Theo trình độ phát triển có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phát triển cao. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phát triển trung bình. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phát triển thấp. - Theo quy mô đô thị có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng siêu đô thị.
Cơ sở hạ tầng đô thị lớn. Cơ sở hạ tầng đô thị trung bình. Cơ sở hạ tầng đô thị trung nhỏ. Tuy vậy, trong số các tiêu chí được đưa ra để phân loại nêu trên, các phân loại căn cứ vào tính chất ngành là thông dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối với công tác quy hoạch và phát triển đô thị.
Vì vậy cần đi sâu vào tiêu chí phân loại này. Thứ nhất, cơ sở hạ tầng giao thông đô thị. Đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ cho sự phát triên của các ngành các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm tiện ích công cộng, công chánh, giao thông. Cụ thể là: hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, sân bay, bến cảng, …; Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất và đời sống; Mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng (bao gồm các trạm biến áp trung chuyển, hạ thế, các thiết bị an toàn và bảo vệ); Hệ thống thiết bị công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, lưu trữ và 6 xử lý thông tin; Hệ thống thủy lợi, thủy nông phục vụ việc tưới tiêu và phục vụ cho chăn nuôi; Cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việc bảo vệ giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người.
Hệ thống này bao gồm các công trình chống thiên tai; các công trình bảo vệ đất rừng, biển và các tài nguyên khác; hệ thống cung cấp, xử lý và tiêu nước sinh hoạt; hệ thống xử lý rác thải công nghiệp. Thứ hai, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Bao gồm toàn bộ các công trình như nhà xưởng, kho bãi, khác sạn, khu thương mại (chợ, siêu thị), trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính, kinh tế và các tổ chức xã hội, … Thứ ba, cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội. Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hóa xã hội, bảo đảm cho việc thỏa mãn và nâng cao trình độ lao động của xã hội; hệ thống này bao gồm: các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; Các cơ sở y tế, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm xã hội, nghỉ ngơi, … và các công trình phục vụ hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng giao thông đô thị: - Trước hết cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là một loại hàng hóa công cộng, nó được sử dụng chung, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho một quốc gia hoặc một tỉnh, thành phố, một huyện, một xã.
- Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị mang tính hệ thống và đồng bộ, bởi lẽ nếu thiếu hệ thống và đồng bộ, hiệu quả sử dụng của cơ sở hạ tẩng kỹ thuật đô thị sẽ không cao, nếu như không nói là không hiệu quả. - Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị mang đặc tính hệ vùng và lãnh thổ, việc xây dụng và phát triển cơ sở hạ tẩng phải xem xét đến yếu tố địa lý, địa hình, và sự phát triển kinh tế - xã hội, sao cho hình thành quy mô xây dựng phù hợp với phong tục tập quán văn hóa, kiến trúc của cộng đồng dân cư trong vùng. Cơ sở hạ tầng vừa phản ánh yế tố kinh tế kỹ thuật, vừa phản ánh kiến trúc văn hóa địa 7 phương. Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tẩng đô thị phải thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người tạo ra tâm lý yêu lao động và yêu quê hương mình.
- Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị có tính thích ứng trong khoảng thời gian dài, vì vậy phải có chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng thích hợp ngay từ đầu. Nghĩa là cơ sở hạ tầng không chỉ đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà cả trong tương lai. Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các ngành khác và tổng thể kinh tế xã hội trong khu vực mà nó phục vụ. - Mật độ các công trình cao, sở dĩ như vậy bởi lẽ các đô thị thường có quy mô dân số và mật độ dân số cao.2 Khoa học phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai” Cách đây hơn một nửa thế kỷ, khi thế giới bước ra khỏi thế chiến thứ hai, vấn đề phát triển có một nội dung thuần túy kinh tế. Các chương trình mở mang quốc gia, các chính sách và kế hoạch kinh tế-xã hội chỉ quan tâm tới các vấn đề đầu tư, sản xuất, công nghiệp hóa, tự túc lương thực, hiện đại hóa nông nghiệp, sản xuất thay thế nhập khẩu, sản xuất nhắm thị trường nước ngoài, v. Lúc bấy giờ phát triển kinh tế đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế, không có sự phân biệt, cân nhắc hoặc so sánh giữa phẩm và lượng trong công cuộc mở mang quốc gia. Riêng đối với các nước chậm tiến có nền kinh tế lạc hậu thì được xem như chỉ có nhu cầu gia tăng sản xuất, xúc tiến các chương trình nhắm các mục tiêu vừa kể.
Kinh tế thế giới lúc bấy giờ tiến lên trong khuôn khổ các chính sách và kế hoạch dựa trên lý luận kinh tế máy móc, một chiều, hẹp hòi và phiến diện. Vào đầu thập niên những năm 1970, sau một thời kỳ trong đó các nước trên thế giới thi đua công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên, tìm kiếm thị trường, Câu lạc bộ La Mã đã phát hành và phổ biến một tài liệu mang tựa là “Ngừng tăng 8 trưởng” hoặc “Giới hạn của tăng trưởng” tùy phiên dịch tựa Pháp ngữ hay Anh ngữ của tài liệu. Tài liệu này vì đề nghị một hướng đi mới cho sự phát triển và có những nhận thức chính đáng, những nhận định xác thực về tổ chức kinh tế, đời sống xã hội nên đã ảnh hưởng làm thế giới cảnh tĩnh trên vấn đề liên quan tới môi trường-môi sinh. Tài liệu viết rằng sự tăng trưởng kinh tế và dân số quá nhanh cùng với tình trạng thi đua sản xuất không giới hạn và khai thác vô ý thức các tài nguyên làm ô nhiễm môi trường, môi sinh và làm cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên thế giới.
Câu lạc bộ La Mã đề nghị chính sách “không tăng trưởng” với lý do tăng trưởng kinh tế nghịch với bảo vệ môi trường môi sinh. Chủ trương “không tăng trưởng” không thuyết phục được thế giới. Các nước nghèo và chậm tiến cũng như các quốc gia có nền kinh tế giàu có đều chống đối quan điểm của Câu lạc bộ La Mã, tuy với những lý do hoàn toàn khác nhau. Ngoài ra, đứng về phương diện nhận thức kinh tế thì đã có những tiến bộ quan trọng mà đáng ghi nhất là sự phân biệt giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự nhận thức một chiều và phiến diện về hoạt động và sản xuất kinh tế. Nó chú trọng tới số lượng sản xuất, phương diện vật chất của hoạt động kinh tế. Trái lại, phát triển kinh tế là một khái niệm xuất hiện vào khoảng giữa thập niên những năm 1960 từ một nhận thức mở rộng về kinh tế, không còn tính cách máy móc, eo hẹp. Theo khái niệm mới này “thêm” không đồng nghĩa với “hơn”.
Do đó tăng trưởng kinh tế, sản xuất “thêm” không chắc chắn chỉ có lợi và thuần túy tích cực mà có thể ảnh hưởng không tốt làm môi trờng, môi sinh tiêu hao hoặc hư hại. Ngược lại, phát triển kinh tế là một nhận thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất, kinh tế và xã hội, phẩm và lượng.